53. Hà Niên lấy người
Tại một làng nọ có hai đứa trẻ, một nam, một nữ cùng độ mười tuổi, hai người kết bạn với nhau đi chăn dê. Suối thời gian chăn dê, hai người thường vui chơi đùa giỡn với nhau xem nhau như ruột thịt. Dần dần hai đứa đã yêu và hứa sẽ lấy nhau thành vợ chồng.
Đến tuổi trưởng thành hai bên cha mẹ bắt ở nhà, nam thì học nghề ruộng đồng nương rẫy, nữ thì phụ trách nội trợ trong gia đình, dệt, may vá v. v... Thấy con đã lớn cha mẹ tự ý đi hỏi chồng, người con hay tin lấy làm buồn rầu vì người chồng chưa hề thấy mặt.
Vào một ngày hẹn hai người lại gặp nhau, cô nàng tin cho anh chàng chăn dê biết hiện nay cha mẹ nàng đi hỏi chồng cho nàng, trong lúc nàng còn yêu và đã hứa hẹn với nhau. Nếu ở nhà thì cha mẹ sẽ ép gả, thà rằng em phải đi sang xứ khác làm ăn là yên, theo suy nghĩ của anh thế nào, trả lời cho em khỏi buồn rầu. Anh chàng thấy nàng thật lòng yêu mình chàng bảo:
- Em về nhà sắp xếp hành trang, chừng nửa đêm khuya cha mẹ ngủ em lén ra chòi gác ở đầu làng chờ anh tại đấy để cùng đi luôn, nếu anh đến trước anh vẫn chờ em tại đấy.
Làng này Hà Niên thường xuống bắt heo, dê. Đêm hôm ấy Hà Niên xuống làng sớm hơn mọi lần, nó vào ngồi phía trong chòi. Đúng nửa đêm cô nàng lặng lẽ mang hành trang đến trước, gần đến chòi cô nhìn thấy bóng người trong chòi, cô tưởng đó là người yêu của mình lấy làm mừng rỡ, cô tiến nhanh vào chòi thì Hà Niên bắt cô lên núi làm vợ, còn người yêu đến sau chẳng thấy nàng, anh vào chòi ngồi chờ. Trời gần sáng mà người yêu không thấy đến, anh nghĩ ngay hay là Hà Niên đã bắt rồi chăng ? Anh chờ lâu không thấy đành âm thầm xách hành trang về nhà.
Hàng ngày anh liếc mắt nhìn đó đây để tìm nàng nhưng không thấy đâu cả, lòng buồn rười rượi, ăn ngủ không yên, giống như người mất trí. Còn về phía cha mẹ của cô ấy cũng rầu rĩ, phần thì cho người đi tìm từ làng này đến làng khác cũng không thấy phần vì van vái gà dê, đồng bóng v.v...
Thấm thoát trôi qua anh chàng vì quá nhớ nàng, tự mang gạo thóc lên núi tìm, anh trèo non lặn suối, tới đâu ngủ đó suốt một dặm trường, qua hôm sau, bỗng thấy nàng ngồi dưới gốc sung một mình, anh liền chạy đến ôm chặt lấy nàng than thở thảm thiết. Nàng kể rằng:
- Gần hơn ba năm nay Hà Niên bắt em tại điểm hẹn đầu làng làm vợ hắn nay đã sanh hai đứa con, gặp nhau đây chúng ta tính thế nào?
Anh chàng nói :
- Duy nhất chúng ta phải trốn khỏi trỗ này, cô nàng nhất trí, nhưng nếu trốn đi bây giờ thì không thể kịp vì sắp đến giờ Hà Niên về. Chàng hãy trèo lên ngồi trên ngọn cây bẻ lá che cho khuất thân, khi hắn về em thưa lại với hắn có anh ruột của em lên thăm, chớ chàng ngồi dưới gốc cây cùng em thì em không an tâm, lúc hắn về phần thì mỏi mệt, thấy anh là người lạ mặt hắn đem lòng ghen tuông em khó bề đối xử. Chàng nghe lời nàng trèo lên ngồi trên ngọn cây.
Nghe tiếng hú ở bia rừng là Hà Niên đã mang thịt về, đến nơi Hà Niên để thịt dưới gốc rồi ngồi nghỉ, bỗng một luồng gió thoáng qua Hà Niên bắt được hơi lạ liền hỏi vợ :
- Hôm nay nhà mình dường như có người lạ phải không em ? Người vợ thưa :
- Không biết, một mạch từ chối và bảo : Nếu không anh cầu quẻ bói thử xem. Dứt lời Hà Niên vuốt lá cây thổi phù một cái lá cây bay tung toé, Hà Niên nhìn theo lá bay thì thấy có người ngồi trên ngọn cây, Hà Niên hỏi vợ:
- Em bảo là không có mồi lạ thì ai ngồi trên ngọn cây đấy ? Vợ thưa rằng :
- Đấy là anh ruột của em, gần ba năm nay anh em không gặp nhau, quá nhớ em anh tìm lên thăm, gặp nhau chưa kịp hỏi thăm gia đình và xóm làng thì đến lúc anh về, anh lấy làm sợ hãi bèn trèo lên ngồi trên ngọn cây.
Nghe vợ bày tỏ tỉ mỉ như vậy, Hà Niên tin thật và mời anh vợ xuống để cùng nhau tâm sự. Anh chàng từ trên cây leo xuống nhưng lòng vẫn còn e ngại. Hà Niên nói :
- Anh em lâu ngày mới thấy mặt nhau xin anh vui vẻ cởi mở trong buổi cơm thịt rừng này, đồng thời xin mời anh ở lại chơi vài ngày dùng thịt rừng với vợ chồng em cho đã rồi về.
Sáng hôm sau Hà Niên bảo anh ở nhà cùng vợ còn hắn thì vào rừng bắt thịt, nói xong Hà Niên đi ngay. Thừa lúc Hà Niên vào rừng chàng bàn bạc với cô nàng tìm cách trốn về vì ở đây trước sau cũng bị Hà Niên giết. Sau khi bàn bạc xong chàng cùng nàng nhất trí, nàng vào trong hang đá khoá chốt hai đứa con rồi trốn đi cùng với chàng.
Đi được một quãng đường gặp phải một con sông lớn không thể lội qua được, tại đấy có một ông thầy Bà xế trèo thúng đưa khách sang sông. Anh chàng năn nỉ với ông thầy sang sông ông thầy bảo :
- Thúng tôi thì nhỏ không thể đưa hai người sang sông cùng một lúc được, nghe thầy nói thế anh chàng bảo : thôi đưa cô nàng qua trước rồi trở lại đưa tôi sau. Nói xong cô nàng leo lên ông thầy chèo đi, đi mãi xuôi theo dòng sông không nhìn trở lại. Tại đây anh chàng chờ lâu không thấy, anh chàng nóng lòng chạy đuổi theo, leo núi xuống ghềnh bị tráo mắt chẳng biết đường nào, đi gặp phải bọn khỉ chặn bắt được chàng, chúng cho chàng ăn trái cây sinh sống cùng đàn khỉ.
Dã tâm của ông thầy Bà xế thấy nàng đẹp muốn cướp đoạt nàng, cho nên ông vừa chèo vừa hỏi rằng :
- Nàng có muốn làm vợ tôi không, bằng không tôi sẽ thả xuống sông cho cá sấu nuốt. Nàng vì sợ chết nên buộc lòng phải chấp nhận. Thuyền xuôi dòng chợt ông thấy một cây sung ra bông sum suê, ông bảo với nàng :
- Bông cây sung này là loại thuốc nam hay nhất, hễ ai đã chết dùng bông nhai cho nhỏ rồi thổi phù một cái vào mồm là người chết sống lại ngay, hoặc đàn bà nào không có con uống vào là có thai ngay. Nàng lòng muốn gạt ông, cô đề nghị với ông thầy làm siêng hái cho uống để có con sau này vui cửa vui nhà. Ông thầy thương vợ, dừng thúng ở bờ sông cởi hết trang phục để trong thúng rồi trèo lên hái. Hái được bao nhiêu bỏ xuống bấy nhiêu cho vợ ở dưới lượm. Thấy bông đã khá nhiều nàng lấy áo ông thầy gói rồi dùng khăn tua cột lại, khi đó nàng tự chèo thúng đi một lèo. Ông thầy từ trên cây nhìn xuống thì nàng đã chèo thật xa, ông thầy bực tức lội nước đuổi theo nhưng không kịp, sức mỗi lúc càng kiệt rồi chết đuối.
Nàng chèo đi một đoạn nữa thì thấy con đường mòn xuống sông, nàng dừng thúng lại leo theo đường mòn lên bờ thì thấy một đoàn người đang tới lấy nước giếng gần sông, nàng lấy trang phục của ông thầy mặc vào giả ông thầy rồi hỏi đoàn người lội nước rằng :
- Các cô lấy nước làm gì mà nhiều thế ?
- Đoàn người bảo :
- Lấy nước làm đám tang cho nàng con út của vua. Dứt lời ông thầy hỏi ngược lại :
- Làm đám cho người còn sống hay người đã chết. Còn những ai đã chết hẳn, tôi làm đám là sống lại ngay. Nghe thầy nói thế đoàn người bảo:
- Thưở giờ đâu có thấy ai làm đám cho người còn sống đâu.
Đoàn người lội nước về trình lại với quan thầy tại đám tang là có một ông thầy lạ mặt đến chơi tại giếng, ông thầy cho biết những ai đã chết ông ta làm đám sẽ sống lại ngay. Quan thầy cho đến mời về hội, ông thầy một mực nói rằng :
- Tôi làm gì cả gan nói dối với các quan. Đám này là đám con út của vua, phải có lệnh vua tôi mới dám làm. Nghe thầy nói vậy các quan triều về tâu lại với vua. Vua nghe qua phán rằng :
- Nếu quả thật thầy làm đám cho con tôi sống lại thì tôi sẽ cắt chia cho thầy nửa xứ quyền sở hữu cúng kính. Vua phán xong cho người đưa thầy ra rạp tang, thầy cho người treo tấm trướng xung quanh nơi đặt thi hài, cho mở dây cột tay chân, cởi hết áo liệm để mình trần, đoạn thầy nhai bông cây sung thổi phù một, cái vào người hoá thành máu trong cơ thể, lần hai da thịt trở lại bình thường, lần cuối thi hài ngồi dậy. Các quan ai nấy thấy nàng công chúa sống lại lấy làm mừng rỡ liền kiệu nàng đưa về triều. Vua và quần thần trong triều đình tổ chức tiệc thết đãi linh đình rồi chọn ngày lành tháng tốt làm lễ kết hôn nàng công chúa với thầy Bà xế.
Đã thành vợ thành chồng, hai người ngủ chung cùng phòng nhưng đêm hai vợ chồng nằm xoay lưng với nhau chẳng nói một lời ân ái. Anh chàng Bà xế bởi lòng quyến luyến người yêu chàng nói với nàng công chúa rằng :
- Phận tôi mồ côi cả cha lẫn mẹ, cha mẹ sinh ra chỉ có hai anh em, hằng ngày hai anh em thường lên rừng kiếm ăn, một hôm bỗng nghe tiếng cọp rền người anh hoảng sợ chạy thất lạc. Tôi đi tìm khắp nơi đâu đâu cũng không thấy. Nay chàng nhờ công chúa tâu lại với vua cha loan báo cho toàn làng Raglai, Chu Ru được biết, đúng ngày hẹn toàn thể dân làng nam phụ lão ấu không thiếu mặt nào, rủ nhau về triều nhận gạo thóc tiền nong do vua cha bố thí, ai không xuống thì không được phép nhận thế người khác chừng đó tôi liếc nhìn từng người may ra gặp được.
Sáng hôm sau, nàng công chúa đem lời thỉnh cầu của chồng vào tâu với vua cha. Vua nói:
- Chỉ có chừng đó rầu rĩ làm cái gì ? Vua cha truyền lệnh mở kho xuất lúa gạo tiền nong để bố thí cho dân làng, đồng thời loan báo cho toàn làng biết ngày giờ phát thí. Đúng hẹn bà con Raglai, Chu Ru lớn nhỏ già trẻ rủ nhau xuống đông như đàn kiến, thầy Bà xế liếc nhìn từng người một không thấy liền hỏi :
- Trên làng có còn ai chưa xuống nhận không?
Dân làng trả lời :
- Cả làng xuống không thiếu một ai, nhưng chúng tôi thấy trên núi cao chỉ có một người mình đóng khố đang theo đàn khỉ.
Thầy Bà xế nói vậy. Nếu bà con nào dụ dỗ người ấy về được thì vua thưởng thêm cả tiền. Bà con phấn khởi phân công nhau đi tìm, cũng may gặp ngay người ấy đang đi với đàn khỉ, bà con bao vây bắt được cho mặc quần áo rồi đưa về nhà.
Tại triều đình thầy Bà xế hay tin bà con đã dụ dỗ anh ấy về được, thầy ra lệnh cho giăng dây da bò. Khi đoàn người đến ai cũng đều chui qua dây chỉ một người ấy không chui. Thấy vậy thầy Bà xế hỏi :
- Tại sao cả đoàn người ai ai cũng chui qua dây mà anh không chui. Người ấy nói :
- Bởi tôi là người Chăm chính thống không thể chui qua dây da bò được, muốn cho tôi được vào nhận gạo tiền thì xin hãy tháo bỏ dây da. Nàng cho tháo bỏ dây đưa chàng về tư dinh.
Cơm nước xong, chàng kể lại cho thầy Bà xế nghe đầu đuôi câu chuyện đau khổ của mình, từ lúc đi chăn dê cùng với nàng, hai người yêu nhau, hứa với nhau sau này sẽ thành vợ thành chồng v.v... Kể đến đoạn gặp đàn khỉ, bọn khỉ vây chặn bắt được chàng, chúng cho ăn trái cây và ở cùng chung với chúng nó cho đến bây giờ.
Nghe xong, nàng thay bộ Bà xế ra ôm chàng khóc nói :
- Em chính là người yêu của anh đây, rồi nàng cũng kể nỗi đoạn trường cho chàng nghe. Nàng quyết định đem tấu trình cho vua biết:
- Thưa vua cha : Anh chàng này chính là người yêu cũ của con, chúng con đã hứa với nhau sau này sẽ nên vợ nên chồng. Con là nữ giới chứ không phải nam, con mặc áo thầy để giả trai mà thôi, cho nên từ khi vua cha đã kết hôn con với công chúa đêm đêm vợ chồng con ngủ xoay lưng vào nhau không nói một điều gì bởi con nhớ nhung anh chàng này, hai con bị thất lạc với nhau đã mấy năm trời. Xin vua cha tha tội khi quân.
Rất cảm động nhà vua cho gọi công chúa, và chàng trai đến. Vua phán :
- Nếu anh chàng này là chồng chính thức của con thì cứ sum họp như cũ, còn công chúa vua cho phép làm vợ bé, vua cho lập đền đài riêng, nếu sau này cha có băng hà thì con sẽ nối ngôi, vợ lớn vợ nhỏ đều làm hoàng hậu.