Hỏi & Đáp với Tác giả: Nguyễn Phi Vân Kể lại Lịch sử của "Một dân tộc ly hương"

Viện Đông Á Weatherhead · 15 tháng 12, 2025
Hỏi & Đáp với Tác giả: Nguyễn Phi Vân Kể lại Lịch sử của "Một dân tộc ly hương"

Một đầu sách mới thuộc Weatherhead Studies làm sáng tỏ những “cách diễn giải mâu thuẫn, thậm chí gần như đối lập” xoay quanh cuộc di cư năm 1954 của hơn 800.000 người Việt Nam.

Hiệp định Genève năm 1954, vốn chính thức chấm dứt Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, đồng thời cũng khởi phát cuộc di cư của hơn 800.000 người Việt Nam từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) vào Quốc gia Việt Nam (miền Nam, hay như sau này được gọi là Việt Nam Cộng hòa).

Một đầu sách mới trong bộ Studies of the Weatherhead East Asian Institute, A Displaced Nation: The 1954 Evacuation and Its Political Impact on the Vietnam Wars (tạm dịch là: Một Dân tộc Ly hương: Cuộc Di cư Năm 1954 và Tác động Chính trị của nó Đối với các Cuộc Chiến tranh Việt Nam) (Nhà xuất bản Đại học Cornell) của nhà sử học Nguyễn Phi Vân, đặt cuộc chuyển dịch dân cư quy mô lớn này vào trong một tiến trình lịch sử dài hơi hơn nhiều, một dòng thời gian kéo dài từ Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945 cho đến khi các cuộc xung đột với các quốc gia láng giềng kết thúc khoảng 45 năm sau đó, vào thời điểm Chiến tranh Lạnh khép lại.

Bằng việc kể lại những câu chuyện của những người di cư năm 1954 xuyên suốt nhiều thập niên, Nguyễn Phi Vân cho thấy họ là một tập hợp đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều so với những hình dung giản lược thường thấy, dù là từ các lực lượng ủng hộ ở hai phía chia cắt Bắc–Nam hay từ các chính phủ nước ngoài có lợi ích gắn liền với cuộc xung đột. Một bộ phận không nhỏ trong số những người mới đến miền Nam Việt Nam xem mình như những kẻ lưu đày ngay trong nội địa; sau họ là thế hệ lưu vong thực sự sau năm 1975, trong đó có những người vẫn níu giữ giấc mơ giành lại những gì đã mất sau cuộc tiếp quản của chính quyền cộng sản, trong khi những người khác trong cộng đồng hải ngoại rốt cuộc đã chọn cách hòa giải với chế độ.

Như Phi Vân viết về những cộng đồng thường xuyên chia rẽ này, ở gần phần cuối cuốn sách của mình: “Người ta từng tự hỏi liệu có thể tồn tại song song nhiều ‘Việt Nam’ hay không. Với một số người, ngày càng trở nên rõ ràng rằng có nhiều Việt Nam cùng tồn tại vượt qua các ranh giới chính trị và tương tác với nhau.”

Nguyễn Phi Vân hiện là Phó Giáo sư tại Khoa Nhân văn và Khoa học Xã hội, Đại học Saint-Boniface, thành phố Winnipeg, tỉnh Manitoba. Qua thư điện tử, bà đã trả lời các câu hỏi của chúng tôi về A Displaced Nation (Một Dân tộc Ly hương).

Tại Hoa Kỳ, ngay cả những người cho rằng mình hiểu biết phần nào về cuộc chiến tranh Việt Nam cũng có thể ít quen thuộc với cuộc di cư năm 1954 và những hệ lụy lan tỏa của nó. Chị có thể khái quát ngắn gọn sự kiện này, và vì sao nó lại có ý nghĩa sâu xa trong nhiều thập niên sau đó không?

Nguyễn Phi Vân:
Cuộc di cư diễn ra sau khi các Hiệp định Genève tạm thời chia cắt Việt Nam tại vĩ tuyến 17, giao miền Bắc cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và miền Nam cho Quốc gia Việt Nam. Theo các điều khoản của lệnh ngừng bắn, các lực lượng vũ trang có thời hạn 300 ngày, bắt đầu từ ngày 21 tháng 7 năm 1954, để tập kết về khu vực thuộc quyền kiểm soát chính trị của mình. Tuy nhiên, Điều 14(d) cũng cho phép thường dân được lựa chọn khu vực họ muốn sinh sống.

Kết thúc giai đoạn chuyển tiếp này, hơn 800.000 người đã rời miền Bắc để vào khu vực phi cộng sản ở miền Nam, trong khi chỉ khoảng 150.000 người di chuyển theo chiều ngược lại ra miền Bắc.

Cuộc di cư này đã khơi dậy một làn sóng đoàn kết rộng lớn, bởi thế giới phương Tây bị lay động trước số phận của những người Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản ở miền Bắc. Sự dịch chuyển dân cư này có tác động rất lớn, không chỉ vì quy mô đông đảo cần được tiếp nhận và tái định cư trong thời gian ngắn. Làn sóng ủng hộ ấy còn góp phần củng cố tính chính danh của chính quyền Sài Gòn, tạo cảm giác rằng họ có được sự ủng hộ nhất định từ quần chúng.

Sự hậu thuẫn trên phạm vi toàn cầu này cũng khiến một bộ phận trí thức và lãnh đạo chính trị trong cộng đồng người di cư tin rằng thế giới phương Tây sẽ không để Việt Nam tiếp tục bị chia cắt và miền Bắc nằm dưới sự quản lý của cộng sản. Một số người cho rằng, nhờ sự ủng hộ rộng rãi ấy, cuộc đấu tranh của chính họ nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, đảo ngược sự chia cắt và trở về miền Bắc cuối cùng sẽ giành thắng lợi. Đáng chú ý là niềm tin này không hề biến mất trong suốt thời chiến, mà còn nhiều lần trỗi dậy trong các thập niên tiếp theo, thậm chí ngay cả sau khi nhiều người trong số họ ra nước ngoài sinh sống sau sự sụp đổ của Sài Gòn.

Trong bài viết của bà trong The Cambridge History of the Vietnam War, Tập I: Origins, chị viết: “Việc tiếp nhận các cách tiếp cận toàn cầu đối với lịch sử các cuộc chiến tranh Việt Nam đã cho phép một sự chú ý mới đến những mối liên kết đa chiều, đa thiết chế và theo chiều dài thời gian (longue durée).” Chị có thể cho biết cách tiếp cận của chị về cuộc di cư năm 1954 và những hệ quả của nó được hưởng lợi như thế nào từ những mối liên kết ấy?

Phi Vân:
Khái niệm longue durée thường được dùng để chỉ một khung thời gian rất dài, một lịch sử gần như bất động, tương phản với các sự kiện đơn lẻ hay các chu kỳ kinh tế – chính trị. Nhưng trong bối cảnh các cuộc chiến tranh Việt Nam, longue durée ám chỉ những tiến trình và động lực lịch sử được hình thành và tích lũy trong khoảng thời gian dài hơn nhiều so với một trận đánh, một chiến dịch quân sự, một nhiệm kỳ tổng thống, hay sự can dự của một bên tham chiến (như Pháp hay Hoa Kỳ). Longue durée ở đây nói đến những quá trình thường xuyên xuyên suốt cả ba cuộc chiến tranh Việt Nam, hoặc kết nối chúng với Chiến tranh Thái Bình Dương, hay với tiến trình phi thực dân hóa diễn ra sớm hơn.

Trong A Displaced Nation, tôi cố gắng cho thấy các cuộc chiến tranh Việt Nam không chỉ là ba cuộc xung đột vũ trang tách biệt: cuộc chiến chống thực dân Pháp (1946–1954), cuộc chiến thống nhất đất nước (1959–1975), và cuộc chiến giữa các “anh em cộng sản” khi Việt Nam đối đầu với hai nước láng giềng Campuchia và Trung Quốc (1978–1989). Chúng đồng thời là một cuộc chiến liên tục giữa chính người Việt với nhau về việc quốc gia hậu thuộc địa sẽ trở thành điều gì.

Việc dịch chuyển các mốc thời gian và đối tượng nghiên cứu cũng giúp mở rộng tầm nhìn của chúng ta. Không chỉ cho phép nhận ra những tính liên tục giữa các cuộc xung đột vũ trang này, việc xem xét cuộc di cư năm 1954 còn giúp ta thấy rõ mạng lưới kết nối xuyên quốc gia phong phú giao cắt tại Việt Nam, cũng như cách con người và ý tưởng lưu chuyển trong các mạng lưới ấy trong suốt thời chiến. Chẳng hạn, cuộc di cư cho thấy các cuộc chiến tranh Việt Nam không chỉ đơn thuần là chiến tranh phi thực dân hóa, hay một mặt trận của Chiến tranh Lạnh, hay một cuộc nội chiến giữa các lực lượng Cộng sản và Quốc gia. Với nhiều thành viên của Giáo hội Công giáo Rôma, đây còn là một cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ tự do tôn giáo, xác định vai trò của đức tin Công giáo trong một nền dân chủ, và định hình thành phần cũng như định hướng của Giáo hội trong Việt Nam hậu thuộc địa.

120325-nguyen-us-navy-photo.jpg

Phía trên: Người Việt Nam di cư lên tàu đổ bộ LST 516 của Hải quân Hoa Kỳ để bắt đầu hành trình từ Hải Phòng (miền Bắc Việt Nam) vào Sài Gòn (miền Nam Việt Nam) trong khuôn khổ Chiến dịch Passage to Freedom, tháng 10 năm 1954.
(Ảnh Hải quân Hoa Kỳ / phạm vi công cộng, qua Wikimedia Commons)

Trong lịch sử này, cách gọi tên có ý nghĩa quan trọng, bởi cùng một nhóm người nhưng vào những thời điểm khác nhau và trong các nguồn tư liệu khác nhau lại được gọi là “người di tản,” “người di cư,” hay “người tị nạn.” (Chưa kể đến thế hệ sau với thuật ngữ “thuyền nhân”.) Vì sao những cách gọi khác nhau này lại quan trọng?

Phi Vân:

Cuộc di cư năm 1954 có ý nghĩa đối với rất nhiều người, nhưng chính sự dịch chuyển dân cư ấy lại mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo góc nhìn. Từ quan điểm của Hoa Kỳ, những người rời miền Bắc được xem là nạn nhân chạy trốn sự đàn áp. Cách diễn giải này cho phép Hoa Kỳ ngầm khẳng định rằng Hà Nội là mối đe dọa đối với chính người dân của mình. Như vậy, đây là một cách tiếp tục cuộc chiến bằng những phương tiện khác sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Đồng thời, cách nhìn ấy cũng hàm ý rằng những người tị nạn này sẽ tìm được sự an ổn một khi được tái định cư ở một nơi an toàn.

Tuy nhiên, phần lớn các văn bản và báo chí tiếng Việt thời bấy giờ lại gọi những người rời miền Bắc là “người di cư,” bởi nhiều trí thức và lãnh đạo chính trị trong số họ bác bỏ quan niệm cho rằng mình là nạn nhân và khẳng định rằng việc ra đi chỉ mang tính tạm thời. Họ tin chắc rằng một ngày nào đó mình sẽ trở về miền Bắc.

Điều đáng chú ý là Quốc gia Việt Nam, rồi sau này là Việt Nam Cộng hòa, cũng như nhiều người di cư ấy, đều nhận thức được rằng tồn tại những cách diễn giải mâu thuẫn, thậm chí gần như đối lập, về cuộc di cư. Tuy vậy, họ chấp nhận duy trì sự nhập nhằng đó, bởi đây là cách tốt nhất để thu hút sự chú ý và ủng hộ của thế giới phương Tây.

Thỏa hiệp này trên thực tế phản ánh một vấn đề lớn hơn. Liên minh các quốc gia và các nhóm người cùng liên kết trong cuộc đấu tranh chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản đã làm như vậy vì những lý do khác nhau. Hoa Kỳ muốn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tại vĩ tuyến 17, trong khi Sài Gòn muốn xây dựng một nền cộng hòa vững mạnh ở miền Nam. Còn nhiều người di cư thì mong muốn tiếp tục chiến tranh và giải phóng miền Bắc khỏi sự cai trị của cộng sản. Vì thế, Washington, Sài Gòn và những người di cư đã cùng đứng về một phía. Nhưng xét đến cùng, họ theo đuổi những mục tiêu chiến tranh không giống nhau.

Công trình của bà khép lại bằng một đoạn văn đầy xúc động khi bà viết: “Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh cuối cùng đã khiến nhiều người di cư phải thừa nhận rằng Việt Nam trong trí tưởng tượng của họ sẽ không bao giờ tồn tại trong những đường biên giới mà họ từng hình dung. Việt Nam sẽ tiếp tục tồn tại vượt qua các lục địa.” Tôi muốn bà nói thêm đôi chút về ý niệm một quốc gia vượt lên trên các ranh giới địa lý và chính trị—và hình hài của nó có thể ra sao vào năm 2025, tức 50 năm sau khi cuộc chiến tranh của Mỹ kết thúc.

Phi Vân:

Trong một thời gian rất dài, chúng ta thường nhìn các cuộc chiến tranh Việt Nam như một cuộc đấu tranh kéo dài nhằm kiến tạo một quốc gia–nhà nước. Tuy nhiên, xung đột vũ trang ấy đã tạo ra những làn sóng dịch chuyển dân cư quy mô lớn. Đôi khi, những tầm nhìn khác về quốc gia–nhà nước đã theo chân những con người ấy ra nước ngoài, và niềm hy vọng được trở về Việt Nam mà một số người nuôi dưỡng thậm chí còn sống dậy trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba. Những dự án ấy đã thay đổi kể từ khi chiến tranh kết thúc, nhưng sự đứt gãy giữa các tầm nhìn khác nhau về quốc gia–nhà nước thì vẫn còn tồn tại.

Việc Việt Nam mở cửa từ năm 1986 đã gia tăng cơ hội đi lại cho người Việt và tạo điều kiện để các gia đình đoàn tụ. Người Việt ở hải ngoại trở về quê hương để thăm viếng, làm việc hoặc nghỉ hưu; đồng thời, người từ Việt Nam cũng ra nước ngoài để học tập, lao động hoặc sinh sống. Tuy vậy, sự lưu thông của con người—cùng với dòng chảy của hàng hóa và ý tưởng—không hề củng cố một tầm nhìn duy nhất về quốc gia–nhà nước. Thực tế, 50 năm sau khi chiến tranh kết thúc, “Việt Nam” vừa là một quê hương chung, nơi xuất phát của tất cả những con người ấy, vừa là một cộng đồng hải ngoại phân tán khắp toàn cầu.

 

120325-nguyen-angel-cartoon.jpg

Bức tranh biếm họa chính trị do Bích Kích Pháo thực hiện vào tháng 8 năm 1955 châm biếm việc Việt Nam bị các cường quốc ngoại bang chia cắt. Gấu Nga và gà trống Pháp đang yến tiệc, sư tử Anh và đại bàng Mỹ háo hức nhập cuộc, còn chú bồ câu Việt Nam nhỏ bé nằm giữa bàn tiệc, trong khi Thiên thần Hòa bình đứng bên quan sát với vẻ bất an. Hình ảnh này được in lại trong A Displaced Nation: The 1954 Evacuation and Its Political Impact on the Vietnam Wars của Nguyễn Phi Vân.

Jeff Tompkins

Ngày 3 tháng 12 năm 2025