Hiện tượng triệt tiêu sự tình trong tiếng Việt(ベトナム語の事象キャンセル)
Được xuất bản vào tháng 3 năm 2023 trong ấn phẩm Hiện tượng triệt tiêu sự tình trong các ngôn ngữ Đông Nam Á lục địa (東南アジア大陸部諸言語の事象キャンセル, Event Cancellation in the Languages of Mainland Southeast Asia), bài viết bằng tiếng Nhật của Shimizu Masaaki (清水政明) có nhan đề “Hiện tượng triệt tiêu sự tình trong tiếng Việt” (ベトナム語の事象キャンセル, Event Cancellation in Vietnamese). Nghiên cứu khảo sát cách tiếng Việt biểu đạt những trường hợp trong đó một sự tình hoặc kết quả được kỳ vọng của sự tình đó không được hiện thực hóa, mặc dù hành động đã được bắt đầu hoặc được chủ thể cố gắng thực hiện. Thông qua một hệ thống phong phú các câu ví dụ tiếng Việt, tác giả phân tích những điều kiện ngữ pháp và ngữ nghĩa cho phép người nói xác nhận một hành động ở mệnh đề trước nhưng sau đó lại phủ định kết quả dự kiến của hành động ấy. Bài viết tiếp cận hiện tượng triệt tiêu sự tình (event cancellation) thông qua một loạt phép kiểm nghiệm ngữ nghĩa có hệ thống. Nghiên cứu xem xét liệu tiếng Việt có cho phép phủ định hoặc triệt tiêu những thành tố kết quả thuộc nhiều loại sự tình khác nhau, chẳng hạn như sự biến đổi vật lý của đối tượng, tri giác hoặc nhận thức về đối tượng, sự di chuyển, sự tiếp xúc với đối tượng, việc đến một địa điểm, sự tạo thành một vật thể, việc đạt được hoặc sở hữu một vật, sự phát ra âm thanh, hành vi ăn uống, trạng thái kết thúc của hành động do chủ thể thực hiện, sự khởi đầu của hành động có chủ ý, cũng như hành động hoặc cảm xúc được gây ra ở một người khác. Các ví dụ bao gồm những động từ tương ứng với “cắt”, “bẻ/gãy”, “mở”, “đốt”, “di chuyển”, “xây”, “mua”, “ăn”, “uống”, “đứng”, “ngồi”, “chạy”, cùng nhiều cấu trúc gây khiến khác nhau. Một vấn đề trung tâm của nghiên cứu là mối quan hệ giữa thể từ vựng (lexical aspect), cấu trúc ngữ pháp và cách diễn giải kết quả của sự tình. Phân tích cho thấy các động từ tiếng Việt có sự khác biệt đáng kể về khả năng cho phép phủ định kết quả được kỳ vọng. Trong một số trường hợp, cấu trúc có nghĩa tương đương với “đã thực hiện X nhưng kết quả dự kiến không xảy ra” có thể được chấp nhận; trong những trường hợp khác, bản thân việc sử dụng động từ đã hàm ý rằng kết quả thực sự xảy ra, khiến việc phủ định kết quả trở nên mâu thuẫn về mặt ngữ nghĩa. Bài viết cũng khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố như đã, rồi và cấu trúc sử dụng định đối với cách diễn giải những sự tình này.
Nghiên cứu đặc biệt chú ý đến các biểu thức gây khiến – kết quả. Tiếng Việt sử dụng nhiều cấu trúc gây khiến, trong đó có bắt, cho và làm, nhưng khả năng triệt tiêu sự tình kết quả không giống nhau giữa các cấu trúc này. Tác giả nhận thấy các cấu trúc với bắt và cho trong một số ngữ cảnh có thể cho phép phủ định kết quả được kỳ vọng, trong khi cấu trúc với làm có xu hướng hàm ý rằng kết quả thực sự đã xảy ra. Sự khác biệt này cho thấy những cấu trúc gây khiến có vẻ tương đồng về hình thức có thể mã hóa những mối quan hệ khác nhau giữa sự tình gây khiến và sự tình kết quả. Phần kết luận tổng hợp kết quả khảo sát theo 14 nhóm ngữ nghĩa, được trình bày trong các bảng chi tiết ở cuối bài. Các bảng này đối chiếu khả năng triệt tiêu sự tình khi sử dụng cụm động từ cơ bản, cấu trúc đã + VP và VP + rồi, qua đó cho thấy những khác biệt đáng kể giữa các loại vị từ và loại hình sự tình trong tiếng Việt. Ở phạm vi rộng hơn, nghiên cứu cho thấy hiện tượng triệt tiêu sự tình là một phương thức hữu ích để khảo sát cấu trúc sự tình, thể, sự hàm ý kết quả và cấu trúc gây khiến trong tiếng Việt. Vì vậy, bài viết có giá trị đối với nghiên cứu ngữ nghĩa học tiếng Việt, mối quan hệ cú pháp – ngữ nghĩa, thể từ vựng, cấu trúc sự tình và cấu trúc gây khiến.
Tiêu đề:
Hiện tượng triệt tiêu sự tình trong tiếng Việt(ベトナム語の事象キャンセル)
Tác giả:
Author: Shimizu Masaaki
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.