Folktales of Cham People
This collection brings together 58 stories from the rich oral and literary traditions of the Cham people. 32 tales were selected from materials held by the Centre and shared by individuals and families in Cham villages in Ninh Thuận and Bình Thuận. 26 tales were collected by Tuấn Dũng from books and magazines. Stories about Po Nai and Po Ri Yak sit alongside tales rooted in Cham customs and spiritual life. Together, they offer insights into how Cham communities have told stories about love, work, justice, and courage.

34. Hoàng tử UmRúp và cô gái chăn dê

Vua Itá Ita giữ ngôi trị nước đến năm con rồng thì sinh được một người con trai. Vị hoàng tử vừa là con đầu vừa là con út đó, tên là Umrúp.

Hoàng tử Umrúp sáng dạ khác người, thông minh không ai bì kịp. Chàng có tài đọc một chữ hiểu một trang; đọc một trang, hiểu một quyển; đọc một quyển hiểu cả truyện ghi trong bộ sách. Năm lên sáu tuổi Umrúp đã đọc hết cả sách vở trong triều. Chàng thích nhất là quyển sách viết về Pôpì, vị thần ở giữa lòng đất, có sức mạnh giẫm phía đông, núi phía tây rung rinh, nghiêng ngả; giẫm phía tây, mặt nước biển đông chao sóng rập rình. Một hôm Umrúp hỏi cha:

- Con muốn giỏi như Pôpì mà sao chưa được? Con muốn giẫm phía đông, núi đổ gông xuống lấp biển... Con muốn giỏi hơn Pôpì mười lần, thì phải làm thế nào ?

Thấy con cả chí, gan bền, óc sáng, khôn nhanh, vua quý hơn kho ngọc, kho vàng. Vua bảo Umrúp:

- Muốn giỏi như Pôpì ; muốn đạp phía đông gồng đất phía tây ; muốn đặt bàn chân ở phía nam mà đất phía bắc rung rinh sụp lở, thì còn phải học, học nữa... Học cho đến khi nào nhìn lên trời, biết có mấy vì sao, nhìn mặt đất, biết có bao nhiêu núi non, sông, suối, cây cỏ, nhìn xuống biển, biết nước sâu mấy sải, mấy sào... thì con giỏi như Pôpì.

Umrúp ngồi trong kho sách, đọc cả ngày lẫn đêm trừ khi ăn và lúc ngủ. Vua không cho chàng ra khỏi thành, ngày ngày chiều chuộng, nâng niu. Khi ăn cũng cho người canh, lúc ngủ cũng có người nâng giấc. Chàng đi một bước đều có quân hầu đưa trước, đón sau, ít khi chàng được tuỳ ý đi một mình. Một hôm trời dịu mát, nắng tràn qua thành, gió hiu hiu thổi, Umrúp thấy lòng nao nao, chân muốn bước, mắt muốn nhìn khoảng trời xa lạ. Chàng liền gấp sách, trèo lên ngọn tháp, nhìn ra ngoài thành. Bấy giờ, lúa mùa đang chín. Đồng lúa vàng óng như tấm vải nhuộm nghệ. Ở phía nam, người đi gặt đông hơn đám cưới, người đi mót đông hơn đám hội. Sân đập lúa ở giữa đồng nhiều hơn sân nhà trong làng. Những đống lúa bó xếp vuông vuông, cao cao. Những đống thóc vun gần nhau cao như những ngọn đồi, vàng thẫm như con ong mật, vàng đậm như con ong ruồi. Hàng nghìn chiếc xe chở lúa đi ngược, đi xuôi.

Ở phía bắc, những đám ruộng vừa gặt đã được cày, gieo. Người đi cày đông hơn người đi chợ. Nón người nọ chạm vai người kia. Ngón chân người đi sau chạm gót chân người đi trước. Trâu kéo cày đi sát nhau như trâu nhốt trong chuồng. Sừng con nọ cọ vào cổ con kia. Con này đập đuôi, trúng đùi con kia.

Người gieo hạt theo sát người đi bừa, đông đến nỗi không đếm xuể. Những hạt lúa giống được vãi xuống bùn dày như hạt mưa dông.

Ở phía đông, biển rộng mênh mông gấp vạn cánh đồng. Nước biển xanh thắm. Thuyền chài, thuyền câu, thuyền lưới nhiều như vịt lội trong ao. Cánh buồm nhiều như cánh bướm. Ở phía tây, núi gối liền nhau như nóc nhà trong thành nội. Đồng cỏ rộng mênh mông. Trâu bò từng đàn, dê từng lũ. Trâu, bò gặm cỏ dưới đất bằng. Dê nhảy nhót trên núi thấp, núi cao, đông như đàn kiến. Con lông đen, con lông trắng, con thì sừng cong, con thì sừng quặp...

Thấy cảnh ở ngoài vui hơn ở thành nội, Umrúp tụt xuống thấp, chạy miết về chỗ đàn dê đang ăn. Chàng đi ngược theo bờ con sông lớn. Con sông uốn khúc ngoằn ngoèo như rồng lượn. Bờ sông bằng phẳng. Nước sông trong vắt, soi rõ mặt người. Mỗi đoạn sông có một đập nước. Nước trên đập lớn tràn xuống đập con ; đập con dẫn nước vào mương vào đồng. Xa xa, có những cái thác đá, mưa đổ xuống trắng như bông bắn. Bọt nước tung lên trắng như bông đang bay. Đi qua đây Umrúp gặp một người chăn dê dở già dở trẻ, tay chống cái gậy, tay đỡ một con chim vàng. Da anh ngăm ngăm như mật mía, mắt sáng, mặt vuông, mồm hay cười, người khoẻ mạnh. Trông thấy Umrúp, anh quỳ xuống vái chào :

- Hỡi hoàng tử Umrúp ! Chỗ này đồng vắng người thưa, bùn lem đất bẩn, mùi dê hôi hám... Hoàng tử đi đâu mà lạc đến đây ?

Umrúp đỡ người chăn dê đứng dậy.

- Ta không chê đồng vắng, không ngại chỗ ít người, ta không sợ đất bẩn, bùn lem. Ở trong triều ta không được thấy những cái ta đang thấy! Hỡi người chăn dê... ta không lạc đường ! Ta buồn, ta đi chơi cho vui...

Người chăn dê quỳ xuống, dâng con chim vàng cho Umrúp :

- Hỡi hoàng tử Umrúp ! Kẻ chăn dê không có ngọc quý ngà voi, không có vải hoa, vàng nén! Kẻ chăn dê chỉ có con chim vàng khôn ngoan làm bầu bạn... xin dâng hoàng tử. Con chim vàng sẽ làm người vui tai, vui mắt, vui lòng.

Tay đỡ con chim, tay đỡ người chăn dê đứng dậy, mặt Umrúp buồn buồn :

- Hỡi người chăn dê tốt bụng ! Ở trong triều không có gì làm ta vui mắt, không có ai ta thích làm bạn. Nay ta được người cho ta chim quý. Ta muốn cùng người làm bạn cho vui.

Người chăn dê không dám nhận lời :

- Úi ô... không thể được đâu !... Hỡi hoàng tử ! Ngài hãy về triều, về nơi kinh thành giàu sang lắm bạc nhiều vàng, dư cơm, thừa áo. Ở đây chỉ có người nghèo, áo rách, cơm không no; đường đi bùn lầy, mùi dê hôi hám... Vua biết ngài ở đây đầu tôi sẽ đứt làm ba, làm mười.

Umrúp bớt vui, nhưng lòng không biết sợ. Tay vuốt ve con chim vàng, mắt nhìn người chăn dê, người nói :

- Người đừng lo, đừng sợ. Vua mắng ngươi, ta chịu. Vua đòi chặt đầu ngươi, ta can. Ở trong triều không vui, ta không thích ở.

Umrúp đi ngược, đi xuôi, đi ra, đi vào ; nhìn phía trước, xem phía sau ; trông hoa tươi, cười với lũ bướm. Gió thổi, mây bay, chim lượn, tiếng sáo diều vi vu v.v... Ở đây cái gì Umrúp cũng thấy hay, thấy lạ. Trời tắt nắng.

Đàn dê ăn no tròn bụng, lũ lượt kéo về. Người chăn dê cầm gậy đi theo sau.

Umrúp đi bên cạnh. Về chưa đến làng, chàng đã nghe tiếng búa của thợ rèn đập đe ; tiếng đục, tiếng tràng của thợ mộc ; tiếng xa quay rào rào, tiếng bắn bông "pừng pực" của những người dệt vải. Umrúp thấy nhà nào cũng có nhiều khung dệt để thẳng hàng. Tơ vàng, vải xanh vải trắng, vải hoa dệt thành hình mắt gà, da cáo, chất từng đống. Người bắn bông ngồi thẳng hàng hơn cột nhà. Bông bay lên như mây bay, mây cuộn. Ngoài đường làng, người và xe chở lúa, chở gỗ tấp nập đi ngược, đi xuôi. Umrúp mải ngắm, mải nghe, nên về đến thành thì trăng giữa tháng đã lên khỏi biển. Nhìn con chim vàng, nhớ người chăn dê, nhớ cảnh đi chơi buổi chiều, đêm đó Umrúp thức mãi với ánh trăng. Chàng nghe những người đi câu than :

- ... Vua không thương người nghèo. Vua bòn mót của dân hàng triệu cân vàng, đem về chất đầy kho. Người đi cày làm ra thóc ngon, vua được ăn trước. Người dệt ra vải đẹp, vua được mặc trước. Ai có thứ gì quý đều phải đem dâng vua, mà vua không thương người nghèo ! Kho thóc của vua đầy tràn, mà người làm ra thóc đói cơm rách áo...

Umrúp nửa tin người đi câu nói đúng, nửa ngờ họ nói nhảm. Sáng ngày, mặt trời vừa vượt khỏi mặt biển nắng rải lên mặt thành, chàng đã vào buồng mẹ, lấy chiếc ấm vàng, đựng đầy

nước uống, chạy vụt ra khỏi thành đi tìm anh chăn dê. Hoàng hậu tỉnh giấc thấy vắng con, mất ấm vàng, đến khóc với vua. Vua đang ngủ, bổ choàng dậy, tung chăn, vứt gối, chân đi sai hài, không cài cúc áo, mồm thét, tay vung gươm:

- Những tên lính canh mù mắt ! Sao để hoàng tử ra khỏi thành ? Gươm sắc này sẽ chém chúng bay đứt cổ. Quân đâu ? Đi tìm hoàng tử về đây cho ta. Phải đi khắp hướng đông, hướng tây, hướng nam, hướng bắc. Phải tìm từ chỗ nước xanh sóng vỗ, cho đến chỗ núi đá, cây cao. Tìm từ đầu giải đất phía nam đến cuối giải đất phía bắc. Tìm cho được Umrúp về đây cho ta...

Vua thét quan, quan thét quân, ẩm ĩ cả triều đình. Lính cầm gươm lên ngựa, tốp chạy ngược, tốp chạy xuôi, tốp vào hướng nam, tốp ra hướng bắc.

Umrúp xách chiếc ấm vàng, chạy miết về phía đồng cỏ. Mương ngòi chi chít, chỗ này năm ba con nhập dòng, chỗ kia một con rẽ năm, rẽ bảy. Con sông lớn chảy ngoằn ngoèo như con rắn ăn no. Nước sông lượn qua đập thấp, tràn qua đập cao, luồn trong rừng cây xum xuê, rậm rạp, toả ra cánh đồng bát ngát bao la. Đến đây, dòng sông rẽ đôi, ôm hòn cù lao vào giữa.

Hòn cù lao thon như quả thơm (dứa). Cây trên hòn cù lao lá xanh như lá mạ. Nước dưới chân cù lao trong như sương, soi rõ bóng người, nhìn thấy con cá lội, con tôm bơi. Xung quanh hòn cù lao có cây cao bóng mát. Dưới bóng cây có những phiến đá vuông vuông tròn tròn, trơn như ngạch cửa. Một cô gái đuổi dê đến đây chăn. Dê ăn cỏ trên bờ sông, cô ngồi trên phiến đá. Mái tóc cô buông xuống, mềm mại như nước chảy xuôi. Mặt cô thon như quả dừa bổ đôi, má ửng hồng như quả bông non. Răng nhỏ như hạt lựu, trắng và đều như hai hàng ngô nếp. Môi đỏ như mới nhai trầu. Hai hàng mi cong như hai lá lúa. Hai mắt tròn và đen như hai quả xay. Đứng gần trông cô vui, đứng xa trông cô càng đẹp. Umrúp đến ngồi bên cô gái, nói lời yêu thương. Nhưng chuyện chưa bén, cô gái chưa vui, chưa cười, thì quân lính đã giục ngựa chạy đến. Umrúp nói to :

- Hới quân lính ! Ở trong triều ta chỉ hơn con voi vì chân ta chưa buộc xích, ta chỉ hơn con hổ vì ta chưa bị nhốt trong chuồng. Ta muốn đi chơi... Quân lính hãy trở về. Để ta đi chơi!

Quân lính xuống ngựa, quỳ gối, mắt nhìn xuống đất mồm van lơn :

- Hỡi hoàng tử Umrúp ! Ngài chưa về, vua chưa ăn cơm. Ngài chưa về, hoàng hậu chưa hết khóc. Ngài không về, quân lính không dám về... Ngài không về, đầu quân lính rơi khỏi cổ!

Umrúp hết vui. Chàng không muốn rời cô gái, nhưng nể lời quân lính, nên cầm chim, xách ấm trở về, lòng vừa buồn vừa giận. Đến trưa, mặt trời lên tròn bóng, triều đình vắng vẻ, Umrúp lại lấy ấm vàng múc nước, cầm chim vàng chạy ra hòn cù lao.

Cô gái chăn dê vừa tắm xong, đang ngồi phơi tóc dưới gốc cây thị. Mùi thị chín thơm thơm. Gió đồng thổi hiu hiu. Umrúp đến ngồi gần cô gái. Chàng càng nói, chuyện càng nhiều. Cô gái nghiêng tai nghe, miệng cười chúm chím. Gió đồng thổi mát. Hai người ngồi càng gần nhau hơn.

Mặt trời đã chênh chếch. Người đi cày ra đồng. Người đi đánh cá dưới sông đã lên bờ phơi lưới. Vua ngủ no giấc trưa, ngồi dậy ngáp mấy cái liền... Thấy vắng Umrúp, mất ấm vàng, mặt vua nhăn nhăn, trán vua giật giật. Răng vua nghiến kêu ken két. Vua hò hét, giục quân lính cưỡi ngựa đi tìm.

Umrúp ngồi dưới bóng cây thị. Cô gái ngồi gần bên. Anh chăn dê cho chàng con chim vàng cũng đến đó ngồi nghỉ mát. Umrúp kể cho hai người nghe chuyện Pôpì, Pôli, Pôloá. Chàng càng kể, chuyện càng hay. Anh chăn dê không muốn về. Cô gái càng nghe, càng ngồi xích lại gần chàng. Từ bên kia sông, có hai người đi lại, người trẻ dáng cháu, người già dáng ông. Râu ông già dài đến bụng, tóc bạc trắng như mớ bông, mà lưng chưa còng, mắt sáng hơn hai vì sao. Ông kêu khát. Umrúp rót nước trong ấm vàng ra mời. Quân lính đi tìm chàng sắp đến nơi. Tiếng quân hò dậy sóng, vang đến gốc cây. Umrúp chưa biết tính sao, thì ông già kịp cho con chim vàng thêm trí khôn, thêm lòng thương chủ : vẽ thêm trên vành ấm một lá bùa, và hoá phép cho cô gái chăn dê nhỏ lại.

Ông già có đôi mắt sáng như sao chính là thần Pôpì. Thần đưa tiểu đồng đi chơi qua đây, biết chuyện chàng và cô gái chăn dê có nhiều trắc trở, nên hoá phép giúp hai người. Lá bùa của thần làm cho chiếc ấm vàng đốt không cháy, đập không vỡ, dìm xuống nước không chìm. Con chim vàng có đủ sức bay xa hết đỉnh của trời, hết ngọn của đất ; có đủ trí khôn tránh mọi mũi tên. Umrúp nhìn lại, thấy cô gái chăn dê đã ngồi lọt trong chiếc ấm vàng. Chàng ngơ ngác, chưa hiểu sao thì ông già và cậu tiểu đồng đã biến mất. Chàng vừa quỳ xuống chưa kịp tạ ơn vị thần thì quân lính đã ập đến, bắt chàng đặt lên lưng ngựa, giật chiếc ấm vàng, bắt anh chăn dê trói lại, đem về triều.

Mặt vua vẫn còn nhăn, trán vua vẫn còn giật, mắt vua trợn. Vua giật chiếc ấm vàng ném vào xó, mà không biết có cô gái chăn dê ở bên trong. Vua quát, rách cả khoé mồm :

- Đem thằng chăn dê ra chặt đầu. Đem hai tên lính canh ra chém cổ !

Quân lính đem anh chăn dê và hai người lính canh cửa ra chém. Ba lưỡi gươm còn cách cổ ba người một hạt đậu. Umrúp chạy đến giằng lấy. Chàng đưa thanh gươm lên cổ mình, nói với vua:

- Người chăn dê không có tội. Con tự đi chơi, chứ người chăn dê không rủ.

- Hai người lính canh không có tội. Còn trèo thành, chứ không đi ra cửa. Cha chém họ trước, thì con tự chém con sau !

Vua tím mặt, run tay, vã mồ hôi, môi cũng run: Mặt vua càng nhăn, mắt vua càng trợn, trán vua càng giật. Vua bước qua, bước lại, một chân thẳng một chân cong tay vung một bên tròn, một bên méo. Đi đi, lại lại một lúc rồi vua bò hét thúc giục :

- Hỡi quân lính ! Đuổi hai tên lính canh ra khỏi thành. Đuổi thằng chăn dê đi nơi khác. Đem Umrúp nhốt vào cũi sắt... không cho ăn cơm, không cho uống nước...

Con chim vàng đậu trên ngọn cây cao. Umrúp bị nhốt đói một ngày. Nhưng chàng chỉ nhớ đến cô gái chăn dê, chứ không biết đói cơm khát nước. Đến tối, vua sai lính mang thêm một mâm cơm có rượu ngon, thịt thơm, bánh mới làm, để trước mặt Umrúp. Vua bảo :

- Con còn theo bọn chăn dê, cha bắt con nhịn đói thêm ba ngày nữa.

Umrúp trả lời :

- Được đi theo người chăn dê, nhịn thêm bảy ngày con cũng không thấy đói.

Vua đá đổ mâm cơm, bỏ Umrúp đói thêm hai ngày. Con chim vàng đi tha về cho chàng hoa thơm, quả chín. Nhưng Umrúp bị nhốt sâu trong cung, con chim không vào được, chỉ bay trên cao, hót cho chủ nghe. Umrúp bị đói, bụng ép vào lưng, mồm đắng, lưỡi khô. Nhưng nghe tiếng chim vàng hót, chàng nhớ cô gái chăn dê, lưỡi đỡ đắng, mồm đỡ khát. Ngày thứ tư, Umrúp vẫn không ăn. Vua sợ chàng chết đói, không dám nhốt nữa. Lại muốn cho chàng biết khổ, không dám theo người chăn dê, vua bắt chàng thay lính đi chăn dê. Umrúp rất mừng. Chàng vào buồng mẹ, lấy chiếc ấm vàng, đuổi dê đi chăn để được trò chuyện với cô gái trong chiếc ấm vàng, được trông thấy cảnh sông dài, trời rộng, núi cao.

Đàn dê của vua đông hơn nghìn con. Umrúp đuổi đàn dê lên đồng cỏ, xách ấm vàng vào ngồi dưới bóng cây thị. Cây thị to, quả trĩu cành, chín vàng, vỏ mỏng. Mùi thị thơm bay lẫn trong gió. Con chim vàng vui, hót như tiếng sáo. Gió thổi vi vu như kéo đàn. Suối nước chảy róc rách như ai thì thào nói chuyện. Umrúp cũng nói chuyện với cô gái trong chiếc ấm vàng.

Nhờ phép của Pôpì, cô gái không ăn, không uống mà không đói, không khát. Người cô bé lại tí xíu, đi lại đứng ngồi được trong chiếc ấm, mà xinh đẹp không kém trước. Da cô mịn, như quả xay đẫm sương. Mặt ửng đỏ như quả dâu da đang chín bói. Môi mọng như da quả màng tang ướt như múi bưởi đào bị dập. Tóc cô mềm như tơ, đen như mun, nhẹ như mạng nhện, óng ánh như cánh ong chói mặt trời. Umrúp cất tiếng hỏi:

- Hỡi cô gái chăn dê! Sao mà cô xinh đẹp vậy?

- Người nghèo, nắng cháy, da đen ! Có chê thật thì chê, chứ đừng khen đẹp ! Hoàng tử... con vua... sao không ở trong thành, đi chăn dê chi cho khổ?

Cô gái nói vậy, rồi cười. Mồm cô đã xinh, càng xinh. Mắt cô đã đẹp, càng thêm đẹp. Người Um- rúp lành lạnh. Tay chàng run run. Môi chàng mấp máy.

Chàng kể chuyện Pôpì cho cô gái nghe. Cô hỏi Umrúp :

- Chàng là con vua, học rộng hiểu nhiều, biết được vị thần nào lắm tài nhiều phép, sao không cầu thần cứu hộ tôi ra khỏi chiếc ấm?

Umrúp vẫn chưa biết thần Pôpì đã giúp mình, nay muốn cô gái chăn dê bước ra khỏi chiếc ấm vàng, chàng lại khấn nhờ thần Pôpì. Thần Pôpì đã về giữa lòng đất, nói vọng lên :

- Chưa được... hỡi hoàng tử Umrúp ! Chuyện những năm sau, không thể làm được bây giờ. Không ở trong chiếc ấm vàng người chàng yêu thương không thể sống được. Điều chàng muốn bây giờ, có hại cho chàng ngay tức khắc !

Umrúp ít vui, nhưng chưa biết làm thế nào. Chàng đi chăn dê đã mấy mùa cày cấy. Đàn dê đã đông hơn gấp đôi. Vua mong cho chàng biết khổ, xin trở về triều. Nhưng ngày nào chàng cũng đuổi dê lên đồng cỏ, ngồi nói chuyện với cô gái trong chiếc ấm vàng. Vắng con lâu ngày, hoàng hậu nhớ, vua cũng thương. Vào một buổi chiều trời đông, giá rét. Hoàng hậu cùng với vua ra tận chuồng để thăm con.

Thấy Umrúp đen sạm như người đi cày, tóc sém nắng vàng như lông ngựa, hoàng hậu khóc:

- Con ơi ! Hơn chín tháng mẹ mang nặng; hơn ba năm mẹ ngủ không ngon. Con mẹ làm cho mẹ vui. Đừng làm cho mẹ buồn !

Hoàng hậu ngất xỉu. Umrúp giang tay ra đỡ mẹ. Trong lúc bối rối, chàng quên nghĩ đến chiếc ấm vàng. Hoàng hậu quờ tay chạm phải cô gái ở bên trong. Bà hoảng sợ, kêu thất thanh:

-- Trời ơi ! Trời ơi !... Có người trong chiếc ấm!

Vua chạy lại ghé mắt nhìn. Trông thấy cô gái chăn dê, vua giẫm chân lên chiếc ấm, mồm mắng chửi om sòm :

- Con mọi rợ ! Con rách rưới ! Mày làm cho hoàng tử bỏ triều, làm cho con ta quên cha, quên mẹ ! Tao phải giết !

Vua đạp chân lên chiếc ấm, đưa hai tay định nắm cô gái lôi ra. Nhờ có bùa thần Pôpì, bàn tay vua không đút lọt qua miệng ấm. Vua trợn mắt, cầm cây gậy chọc vào. Đầu gậy trượt ra. Vua quẵng gậy, đá chiếc ấm, sai quân lính làm thay mình. Tất cả số lính theo hầu vua, chia làm hai. Một nửa giữ chiếc ấm, một nửa thay nhau thò tay định nắm cô gái chăn dê lôi ra. Nhưng không bàn tay nào thò được vào miệng chiếc ấm vàng. Chiếc ấm bị lính xách vào thành, cho voi chà, ngựa xé. Hai con voi to đạp chiếc ấm không vỡ. Quân lính buộc vòi, buộc quai chiếc ấm, cho bốn con ngựa chia đôi, kéo ngược. Chiếc ấm vẫn nguyên lành. Vua sai đốt mười xe củi, ném chiếc ấm vào.

Chiếc ấm không cháy. Vua tự tay ném chiếc ấm xuống hồ. Chiếc ấm không chìm. Quân lính lấy đá, lấy gạch ném bên trên, chiếc ấm chỉ lật ngược, quay vòng mà không chìm, không vỡ.

Phá không nổi chiếc ấm, giết không được cô gái chăn dê, vua càng tức giận. Tay vua run run, mắt vua chớp chớp, môi vua trề ra, co vào. Vua sai lính ném chiếc ấm vào kho, khóá chặt cửa, bắt lính gác ba lớp bên trong, bảy lớp bên ngoài.

Cô gái chăn dê bị vua hành hạ. Con chim vàng buồn không hát, không múa, thấy sâu không mổ, thấy trái chín không ăn lông rụng gần hết. Umrúp cũng bỏ cơm, bỏ nước tóc xoã phủ mặt, vai gầy nhô xương. Chàng rang một bao bỏng, vác lên vai, đầu đội nón rách, tay cầm gậy tre, tay đỡ con chim vàng, bỏ kinh thành quyết lòng đi tìm cách cứu cô gái.

Umrúp ra khỏi thành, mây đã che kín sao. Chớp sáng hơn núi cháy. Mưa đổ xuống ào ào. Hạt mưa to, rơi thủng nón, rách áo. Nước xuống ngập bụng chân mà hôm nay chàng đi hết một đêm, quá nửa ngày mới đến gốc cây thị. Trận mưa đã làm chỗ chàng thường ngồi đổi khác. Mưa lở núi, nước xối, đá lăn xuống đồng. Ngọn núi thấp xuống một chút. Nước xé lòng sông rộng thêm. Cây trốc gốc. Bùn ngập đến nửa gốc thị. Umrúp mệt nhoài, chân không muốn bước, vai không muốn vác bao bỏng, mắt không muốn nhìn. Chàng tựa gậy tre vào gốc thị, đặt bao bỏng gối đầu, ngủ thiếp. Mặt trời lên, xô bóng cây thị ngả dài. Nghe dưới lưng đau nhói. Umrúp giật mình ngồi dậy, thấy có búp măng to, nhọn, đội đất trồi lên, đúng giữa sống lưng. Chàng trèo lên ngọn cây thị, nhìn về biển. Nước biển dâng lên rồi rút xuống, rút xuống lại dâng lên. Chàng nói một mình :

- Nước biển hôm nào cũng cạn hai lần. Mặt trời ngày nào cũng xuống lấy nước làm mưa. Nước mưa đổ xuống xô đá lăn, xé rách núi, đào trốc gốc cây, phủ bùn dày lớp lớp, mà măng vẫn đội đất chui lên được. Ta là người, ta phải khoẻ hơn búp măng, phải mạnh hơn nước lũ. Phải chịu khó lặn, mọc như mặt trời ; lên xuống như nước biển, để cứu cho được người ta yêu thương.

Umrúp nhớ trong sách chép rằng Pôpì có sức mạnh giẫm phía đông, núi phía tây rung rinh nghiêng ngả, dựng nhà ở ngay giữa lòng đất. Chàng liền vác bao bỏng lên vai bên này, đặt con chim vàng đậu vai bên kia ; đầu đội nón cời, tay cầm gậy tre, tìm đường đến đó xin phép lạ.

Mắt nhìn khắp, chân bước nhanh, gió đưa theo chàng mùi thị chín thơm thơm. Chàng đi từ rừng mây qua rừng tre, băng qua núi thấp, trèo lên núi cao. Đi tới một ngày, sáng một đêm mới ăn một hạt bỏng. Chàng đi mãi, đi mãi, cây gậy tre đã cùn một nửa, bỏng trong bao chỉ còn một phần mà chưa tìm thấy đường xuống chỗ Pôpì có nhiều phép lạ. Chàng phải bẻ cây đào đất lấy đường đi.

Umrúp đào bảy ngày bảy đêm, cái hang mới sâu được bảy sải, thì gặp một hòn đá chắn ngang. Càng khoét, chân đá càng sâu, mặt đá rộng, chàng bỏ hang đó đào hang khác. Nhưng hang này, hang sau và những hang sau nữa, đào sâu được bảy sải, đều gặp đá. Chàng vẫn cứ đào. Cây rừng đã mấy lần thay lá, đơm bông. Mưa mấy lần đổi hướng gió đổi chiều. Hang chàng đào đã nhiều hơn giếng ở dưới làng mà chưa được đường đi. Tay chai sần, vai mỏi, mồm không muốn nói. Umrúp nằm lim dưới gốc cây. Mắt chàng lim dim, lòng chàng buồn buồn. Gió đưa đến mùi thị chín thơm thơm. Umrúp nhớ đồng cỏ, nhớ hòn cù lao, nhớ bóng râm cây thị, nhớ búp măng xuyên thủng đất. Chàng trở lại cái hang đào lúc đầu, nhặt đá nhọn ghè vào hòn đá chắn ngang. Ghè một nhát, tay đau một lần, tảng đá chỉ vỡ một miếng bằng nửa hạt thóc. Chàng nhịn đau, quên mệt. Ghè tới một ngày mới ăn một hạt bỏng, sáng một đêm mới ăn thêm một hạt. Đến khi ăn hết hạt bỏng cuối cùng thì tảng đá cũng thụt tránh sang bên. Dưới chân tảng đá có một khoảng trống, nhìn không cùng. Có một ngôi nhà lung linh ở giữa. Nóc nhà không đụng tầng đất bên trên, nền không chạm tầng đất bên dưới. Trên mái nhà có bốn con rồng há mồm. Dưới chân cột có bốn con hổ ngồi chầu. Ông chủ nhà ngồi ở giữa. Tóc ông trắng như bông, mặt đỏ như người uống rượu. Hai bàn tay ông cũng đỏ hồng, móng dài uốn cong. Umrúp tần ngần, nửa muốn bước vào nửa muốn đứng đợi. Ông già ngẩng lên, tay vẫy, mồm gọi :

- Hỡi chàng trai mới đến đây một lần ! Đã đến đây sao chưa chịu vào đây ?

Umrúp đi vào, chàng hỏi :

- Hỡi cụ già ! Có phải tôi đã gặp cụ một lần ở bên đồng cỏ cạnh bờ sông, dưới gốc cây thị. Tôi đi tìm Pôpì... đi đường này có đúng không?

Ông già cười :

- Chàng đi đúng đường. Pôpì chính là ta. Ta đã cho chàng lá bùa dán trên chiếc ấm, cho con chim vàng thêm trí khôn. Chàng đã khấn, ta đã trả lời. Nay chàng tìm đến đây, chắc là có thêm chuyện gì... ?

Umrúp tạ ơn trước, kể chuyện vua hành hạ cô gái chăn dê, nhốt chiếc ấm vàng vào nhà tối, xin Pôpì cho phép lạ về cứu. Pôpì gật gù:

- Chuyện ấy ta đã biết ! Chàng cứ trở lại đường cũ, về chốn xưa. Lúc nào cần gì, cứ gọi tên ta mà hỏi, khắc có thứ ấy.

Ông già vụt biến mất. Ngôi nhà cũng biến theo. Umrúp muốn hỏi thêm nhiều điều, nhưng đã thấy mình đứng trơ trơ trên mặt đất, giữa rừng. Chàng trèo lên cây cao nhìn hướng, tìm đường trở lại cung vua.

Vắng Umrúp, hoàng hậu nhớ con. Thân bà gầy khô như con ve, khóc hết nước mắt. Vua cũng buồn, thức nhiều hơn ngủ, uống rượu nhiều hơn ăn cơm. Quan, quân cũng buồn lây. Triều đình lặng lẽ như có đám tang. Hôm nay Umrúp về, hoàng hậu lại khóc mừng. Vua cười chảy nước mắt. Hoàng hậu kéo Umrúp vào lòng :

- Mẹ mang con trong bụng hơn chín tháng. Mẹ ngủ không ngon hơn ba năm. Con đi lâu mẹ nhớ ! Con thương mẹ... con đừng đi nữa. Con làm cho mẹ vui, đừng làm mẹ buồn !

Umrúp thương mẹ, không nói nên lời. Vua gọi chàng :

- Umrúp ! Rồi con sẽ làm vua. Con là người lớn nhất nước. Ai thấy con cũng sợ. Con muốn gì cũng có. Muốn bao nhiêu vợ đẹp cũng có.

Umrúp quắc mắt, cau mày :

- Chiếc ấm vàng của tôi đâu ? Ông giấu chiếc ấm vàng của tôi đâu... trả lại đây cho tôi ?

Mặt vua đang đỏ bỗng tái xanh. Trán vua lại giật giật, môi vua lại run run. Vua thét to, cả triều đình đều nghe tiếng :

- Quân đâu ? Bắt Umrúp bỏ vào cũi sắt nhỏ, bỏ cũi sắt nhỏ vào cũi sắt lớn...

Quân lính chạy ùa ra tóm chân, nắm tay, ôm ngang lưng Umrúp nhốt vào cũi sắt nhỏ; cho chiếc cũi này vào chiếc cũi sắt lớn hơn.

Umrúp thét to:

- Hỡi Pôpì ! Cho tôi sức khoẻ bẻ gẫy chiếc cũi sắt này.

Nói xong, Umrúp đạp bên này, xô bên kia. Ba chiếc cũi sắt bung từng mảnh.

Quân lính chạy trốn mỗi người mỗi nơi. Vua lủi vào đám đông, mở khoá kho, đem ấm vàng giấu nơi khác. Umrúp thét càng to :

- Ấm vàng đâu ? Trả ấm vàng, trả người chăn dê đây cho tôi !

Hoàng hậu vừa khóc, vừa run :

- Con ơi ! Nước mắt mẹ đã cạn, mặt mẹ đã méo, da mẹ đã nhăn. Con đừng làm mẹ chết non... Để mẹ con được chết già.

Động lòng thương mẹ. Umrúp đứng yên, mặt buồn buồn. Vua lại lủi thủi trở ra :

- Umrúp ! Cha sẽ cưới hết công chúa các nước cho con. Cha sẽ chọn hết con gái đẹp, con các quan trong triều cho con làm vợ. Con đừng theo đứa chăn dê, theo đứa chăn dê, xấu mặt con, dơ mặt cha mẹ, nhớp nhơ triều đình. ..

- Trả chiếc ấm vàng đây cho tôi. Một trăm công chúa tôi cũng không thích.

Một nghìn con quan tôi cũng không cần...
Trả chiếc ấm vàng lại đây...

Hoàng hậu đứng ngây ra. Vua chạy lăng xăng, thúc người này, giục người khác. Một lúc sau, vua sai mười cô gái trẻ, bưng ra mười mâm thịt, rượu, bánh ngọt, quần áo mới. Cô thì da trắng, cô da nâu, cô mặt tròn, cô môi cong, mũi thon, môi đỏ. Cô nào cũng mặc áo hai màu nửa trên xanh, nửa dưới đen ; nửa trên vàng, nửa dưới tím. Áo căng nứt da, lồng ngực nở, chăn phủ kín gót. Mười cô gái đều nhìn Umrúp cười duyên. Umrúp ngồi yên, không nhìn, đầu cúi xuống. Vua lại sai mười cô gái khác ra, cô nào cũng trẻ hơn, đẹp hơn mặc áo mỏng như cánh chuồn, nhìn thấy da lưng thịt bụng. Các cô vừa múa vừa hát, vừa nhìn Umrúp. Umrúp hét to :

- Hỡi Pôpì ! Cho mười cô gái này què tay, gãy chân, mù mắt.

Trong khoảnh khắc, mười cô gái tay gãy, chân què, mù mắt, quờ quờ quạng quạng. Hoàng hậu ngã xỉu xuống đất. Vua bịt mắt chạy đi. Umrúp gọi Pôpì rút phép, tha mười cô gái vô tội, rồi đuổi theo vua bắt trả ấm vàng. Vua sai lính cầm roi ra đánh Umrúp. Umrúp gọi Pôpì hoá phép cho lính tự đánh nhau. Bị đánh đau, lính chạy khắp thành. Người này giẫm lên người kia, kêu la khóc kể thảm thiết. Vua tức quá, cầm gậy xông vào đánh Umrúp. Umrúp gọi Pôpì hoá phép cho vua tự đánh lại vua. Vua bị đau, ôm đầu chạy. Hoàng hậu trông thấy, kêu gào, lăn qua lăn lại. Umrúp động lòng lại gọi Pôpì rút phép cho cha, đến đứng bên mẹ. Thừa cơ, vua nhảy đến ôm Umrúp vật xuống, gọi quân trói lại, ném xuống ao.

Umrúp chìm sát đất, nước ngập bên trên. Chàng mê mê tỉnh tỉnh, thấy bên trái có chín cô gái đẹp. ba cô bằng nhau, ba cô béo như nhau, ba cô gầy giống nhau. Cô nào cũng mặc áo hai màu, nửa trên xanh, nửa dưới đen ; nửa trên tím, nửa dưới đỏ. Cô nào cũng đeo nhiều cườm ngọc, nhẫn vàng, óng ánh như lửa chói vào gương. Mỗi cô cầm hai cái quạt, đẹp như cánh chim, múa mềm như bướm lượn. Umrúp nhìn sang bên phải. Thấy chín cô gái khác mặc áo mỏng như cánh chuồn, chít khăn đẹp như cánh bướm. Mỗi cô gẩy một cái đàn. Đàn kêu hay như gió thổi, như nước suối reo. Umrúp lại thấy hiện lên một cô gái mặt thon như quả dừa bổ đôi, da mịn như quả xay đẫm sương, mày cong như lá lúa, môi đỏ như mới nhai trầu, như múi bưởi đào mọng nước. Trên vai cô gái có con chim vàng lượn qua, lượn lại. Chàng nhớ cô gái chăn dê, nhớ con chim vàng, liền gọi :

- Hỡi Pôpì ! Làm cho nước cạn, ao khô.

Nước cạn ngay tức khắc. Umrúp nằm trên mặt đất. Vua lại sai lính bắt chàng buộc vào đuôi ngựa, đánh cho ngựa chạy. Ngựa lôi Umrúp qua bờ ao, đồng cỏ, ruộng lúa. Bị xây xát, va vào gốc cây, quần áo Umrúp rách hết, da bóc từng mảng, tóc đứt từng chùm. Vua cho đem Umrúp về triều, đưa quần áo mới, rượu quý thịt ngon để trước mặt. Umrúp không ăn, không mặc. Vua hỏi, Umrúp không nói. Vua giục ăn, Umrúp ngồi im. Vua lồng lộn giẫm chân, vung tay, mồ hôi ra ướt áo. Bộ râu sừng bủm của vua càng bủm. Mặt vua nổi giận, trán vua giật giật, môi vua run run. Vua thét :

- Quân lính đâu? Đem Umrúp vào rừng sâu, buộc vào gốc cây to, đắp lên trên chín lớp đất dầy.

Vua chôn sống con. Quan lớn thở ra, quan bé lắc đầu, lính khóc thầm. Triều đình im lặng như đêm đang ngủ. Hoàng hậu vật mình than thở :

- Hỡi trời ! Hỡi đất ! Hỡi vua ! Hãy tha cho Umrúp sống ! Hãy để cho Umrúp còn thở được, ăn được, nói được.

Vua nghiến răng trèo trẹo như con rắn vặn mình :

- Giết, giết... ta giết ! Để nó sống, triều đình mang nhục, dơ mặt vua quan, xấu hổ họ hàng...

Quân lính trói Umrúp dắt đi. Con chim vàng bay theo. Hoàng hậu nửa tỉnh nửa mê. Cả triều đình nhìn xuống đất, nước mắt chảy xuống mặt. Umrúp ra ngoài thành, người đi cày trông thấy, dừng trâu; người đang cắt cỏ trông thấy, dừng liềm ; người đi chăn trâu, họ trâu dừng lại. Umrúp đi qua làng, người trong làng ra đứng chật ngõ, chật lối. Lúc đi qua đồng cỏ, người chăn dê cho chàng con chim vàng đứng chống gậy nhìn theo, nước mắt chảy ướt áo. Anh buồn, nhịn uống, nhịn ăn.

Quân lính trói Umrúp vào gốc cây to giữa rừng già. Dây trói quấn quanh mình chàng như con trăn quấn con thỏ. Đống đất đắp lên trên cao như hòn núi. Umrúp nhờ phép Pôpì làm cho dây đứt, đất tung ra. Chàng thấy mình bị trói dưới gốc cây Curima, quả sai trĩu cành, đang thì chín bói. Quả Curima rất thơm, rất ngon. Ai ăn một quả, sống được một trăm năm. Umrúp núp nắng dưới gốc Curima, ăn quả Curima trừ cơm. Cây Curima lại mọc hai cái rễ, tròn như hai ống sậy, chụm lại như hai cái vòi. Nước trong vòi chảy ra cho Umrúp uống.

Umrúp ở trong rừng đủ ba tháng. Con chim vàng đậu trên vai múa, hát cho chàng đỡ buồn. Tưởng chàng đã chết, cả triều đình tiếc, cả nước thương. Hoàng hậu càng buồn. Trước bà béo tốt, người tròn như chiếc cối xay, lưng eo như nồi cổ bồng, búi tóc to bằng quả dừa, da trắng như bạc. Bây giờ da bà như chì, tóc rụng hơn một nửa. Người gầy guộc, mặc quần áo cũ rộng như trẻ con mặc áo người lớn. Bà chọn vải đẹp, ngọc quý, sách hay, bút tốt... giục vua lấy hài cốt con về làm đám.

Quân lính đem ra một chiếc xe có hai con dê kéo. Chiếc ghế trên xe cao hơn người ngồi. Đệm xe, đệm ghế bọc vải trắng như bọt nước. Vua ngồi trên kiệu bước xuống, nặng như khúc gỗ đổ, ngồi phịch lên xe nặng như tảng đá rơi. Hai con dê gồng lên, chân trước hẫng khỏi mặt đất. Chiếc xe suýt gẫy làm đôi.

Xe đi, vua ngồi bắt chéo chân như cái rìu thợ mộc. Hai người hầu gái đi hai bên : cổ đeo cườm, tay cầm quạt. Quạt xoè tròn như cánh chim. Xâu cườm đập vào quạt, cánh quạt đập vào xâu cườm, kêu canh cách. Đầu vua lắc lư, chiếc mũ gắn vỏ sò vua đội lấp lánh như cánh ong chói mặt trời. Mặt vua tưởng như bị phù tai tái xanh xanh như miếng thịt ươn chưa luộc. Bộ râu sừng bủm quéo sát vào nhau như muốn đâm thủng mũi. Chỉ riêng bộ râu cũng đủ làm cho người khác ghét không muốn nhìn. Hai hàng lông mi của vua lại cong như đuôi chó, đen như lông quạ. Mũi to bằng quả ổi to. Mắt vua đục đục như người mới ngủ dậy. Áo vua mặc thêu toàn rắn dữ. Chăn phủ kín gót chân, dưới gấu thêu hai con rồng. Xe lắc lư, chiếc chăn lệch qua lệch lại để thòi đôi giầy dát ngọc nạm vàng.

Hai con dê kéo chiếc xe chạy lọc cọc. Gió thổi hiu hiu. Rèm xe đập phành phạch. Mắt vua mờ mờ. Vào đến rừng sâu, quân lính trải trên đám cỏ hai chiếc chiếu vẽ rồng, đặt cái tinh tapôi ở giữa, thắp một trăm cây nến to bằng bắp cày, sáng như mặt trời mới mọc. Nhưng Umrúp vẫn chưa chết. Thấy chàng ung dung ngồi dưới gốc cây, ăn quả Curima, uống nước rễ cây Curima, vua tức giận hò hét :

- Quân lính ! Vào chặt cây Curima... Đào tận gốc, đốt cả thân, cành, rễ, lá... cho ta.

Quân lính vác rìu vào chặt. Umrúp gọi Pôpì hoá phép, làm cho quân lính chém lẫn nhau. Đầu rơi, tay đứt, chân què ; quân lính không đợi lệnh vua, vứt rìu bỏ chạy. Vua nhặt rìu vào chặt. Rìu lại chém vào đầu vua. Chiếc mũ gắn vỏ sò rơi xuống đất. Hàng lông mi đuôi chó bị đứt một mảng. Bộ râu sừng bủm bị vạt một bên. Vua hoảng sợ van nài :

- Hỡi Umrúp ! Hỡi con của cha ! Con tha cho cha ! Cha tha tội cho con... Con muốn làm gì thì làm.

Umrúp nhờ Pôpì rút phép, chiếc rìu hết chém. Vua lại trở mặt, thúc quân lính vào bắt Umrúp. Quân lính đứng chặt vòng trong vòng ngoài như cây, như cỏ, nhưng không ai dám đụng vào chàng. Vua phải cho người về triều gọi Cailclòn.

Cai clòn có mẹ, không cha. Mẹ nó là vợ lẽ vua trước. Mụ đẹp như con chim xanh, nhưng ác như gấu, mãi không có con. Một hôm mụ vào chùa cúng phật Bàlamôn, thấy mụ đẹp, ông phật to nhất ngồi ở giữa bàn phun vào ngực mụ một luồng khói xanh. Khói quấn quanh mình mụ, mụ có chửa, đẻ ra Cai clòn.

Cai clòn xấu xí không kể được. Người xấu nhất cũng đẹp hơn nó mười lần. Nó cao gấp đôi người thường. Lưng rộng nửa sải. Tai nó như cái quạt mo. Da đen như chuột thui. Mặt xù xì như da cóc, lằn ngang vết dọc như bị nhiều vết chém, vết đâm. Hai mắt nó lồi ra như hai con ốc nhồi, đỏ như máu chó. Tóc nó dựng ngược, cứng như rễ tre. Hai cái môi trề ra như hai khúc thịt. Mồm nó lúc nào cũng nhai không, răng nghiến kèn kẹt như xe chở nặng. Người lớn thấy nó phát run. Trẻ con thấy nó chết khiếp. Nó có sức mạnh, lắm mưu nhiều phép, các tướng trong triều không ai bằng... Vua tin nó hơn cha, quý nó hơn con. Được lệnh vua, nó phi ngựa chạy lên xông vào tự tay trói hoàng tử. Đứng bên nó, Umrúp bé như đứa con nhỏ đứng cạnh nó. Nó lấy dây gai quấn đi quấn lại kín người chàng. Umrúp mồm khấn Pôpì, tay giằng chân đạp. Chàng bứt đứt dây gai dễ như bứt sợi tóc. Cailclòn lại lấy dây da vào trói.

Lớp dây dày như buộc ách xe. Umrúp lại bứt dễ như bứt sợi rơm mục. Cailclòn nghiến răng trợn mắt, giẫm chân xuống đất, đập tay vào đầu. Răng nó nghiến nghe xa mười dặm. Chân nó giẫm đất thụt thành hố sâu. Vua cũng tức, cũng đập tay vào ngực, vỗ vào đầu, rồi đâm bổ vào đánh Umrúp. Umrúp đỡ bên này, né bên kia, tránh bên nọ. Những tên lính nhát gan chạy về báo tin dữ cho hoàng hậu. Hoàng hậu đến, thấy chồng con đang đánh nhau, bà ngã quy xuống đất. Nghe mẹ kêu gào, Umrúp đứng im, tay chân run rẩy, răng lập cập. Hoàng hậu gượng dậy ôm ngang bụng con :

- Con ơi ! Mẹ chưa được sướng vì con, con đừng làm mẹ khổ. Con muốn công chúa nước nào. Mẹ đi cưới ngay cho. Con muốn bao nhiêu vợ, mẹ cũng đi cưới ngay cho trong một ngày.

Umrúp đứng yên như đứa trẻ biết nghe lời mẹ. Vua đắc chí, giả làm lành, cười vang như ngựa hí :

- Nghe lời cha... Con sẽ làm vua hai nước, ngôi cha truyền và cả ngôi cha vợ !

Umrúp nhìn ngang, tránh mặt vua. Mồm vua cười chưa xong đã mếu ; vua đẩy vai Cailclòn vừa giục, vừa thét :

- Trói, trói... Đem dây ra trói nó lại !

Cai clòn hoá phép làm dây sen trói Umrúp. Dây sen rất chắc, trói voi một sợi, voi không bứt nổi, mà Umrúp bị trói đến một nghìn sợi. Umrúp thét to :

- Hỡi Pôpì... Pôpì ! Sao chưa bứt hộ dây sen?

Um Rúp nói to quá, vua nghe được. Biết Pô Pì giúp phép cho Um Rúp. Vua liền kiện đến Pô-tề-ta.

Pô-tề-ta buộc Pô Pì rút phép lại. Pô Pì ở giữa lòng đất nói vọng lên :

- Hỡi hoàng tử Um Rúp ! Pô-tề-ta buộc ta phải rút phép. Chàng đừng oán, đừng giận ta. Ta mách chàng hãy đến nhờ Pô-Li. Nhà Pô-Li ở giữa biển khơi...

Bị rút phép, Um Rúp yếu như đứa bé đói cơm. Cai-Clòn nhảy đến ôm ngang lưng chàng như con hổ vồ mồi. Vua cười ha hả. Hoàng hậu hết khóc. Quan, quân bắt Um Rúp về triều. Hàng ngày vua đến bên chàng quát mắng :

- Mày học nhiều sách mà ngu. Coi cát với vàng ngang nhau. Nhìn cỏ tưởng cây lúa. Nhặt khúc xương, vứt mớ ngà. Coi ngai vàng như chiếc ghế gồ...

Hoàng hậu cũng đến vuốt ve, dụ dỗ. Um Rúp không nói lại lời nào. Chàng chỉ ăn vừa hết đói, uống đủ hết khát. Tóc xoã xuống che mắt, chàng như người không vía, không hồn; hết đi ra rồi lại đi vào. Con chim vàng bay đến hót cho chàng nghe, múa cho chàng xem. Chim vạch khăn mổ chí (chấy), nhổ tóc sâu, vạch áo bắt rận cho chàng. Có tên quan thấy con chim vàng có nghĩa với Um Rúp, vào tâu nịnh vua. Vua sai một nghìn quân đem ná, đem tên ra bắn. Con chim bay vút lên cao. Quân lính nằm rình. Con chim không xuống. Vua sai lấy thuốc độc trộn cơm đem nhử. Con chim không ăn. Quân lính đi ngủ, con chim luồn vào đầu hồi nhà, múa cho Um Rúp xem. Quân lính lại nhét kín các chỗ hở. Con chim phải đỗ tít trên cây cao.

Vắng cô gái chăn dê, Um Rúp đã buồn, vắng con chim vàng, chàng buồn thêm. Chàng vụt bỏ cung điện, đi về phía biển, tìm Pô-Li xin phép để về cứu cô gái. Con chim bay vút theo chàng.

Biển rộng mênh mông. Nước xanh hơn da trời, nhìn không thấy bờ nam, bờ bắc. Sóng dâng cao hơn nóc nhà, nối tiếp nhau trùng trùng điệp điệp. Um Rúp vào rừng, đốn tre, xếp hàng đôi, nối dần ra biển. Đà cầu dài đến đâu, chàng chẻ tre đan phên lát dài đến đó. Tối một ngày, mặt trời còn một lần đi nghỉ, nhưng Um Rúp không nghỉ. Chàng làm việc thâu đêm. Con chim vàng không nệ công giúp chủ. Nó múa cho Um Rúp xem, hót cho Um Rúp nghe; tha về từng quả chín, hoa thơm; nhúng ướt lông, mang cho chàng từng giọt nước. Hoa quả, nước giúp chàng đỡ đói, đỡ khát; tiếng chim hót giúp chàng đỡ mệt, đỡ buồn. Chiếc cầu của chàng đã trườn dài ra khơi. Đứng đầu ngoài nhìn vào, trông cây gỗ chỉ bằng chiếc đũa. Bỗng biển động. Gió thét gào. Mặt nước mù mịt. Sóng dâng cao, đập vỡ nát chiếc cầu. Tre trôi mỗi nơi một cây, phên dạt mỗi nơi một tấm. Um Rúp cũng bị sóng xô xuống nước. Chàng ôm được một bó tre. Sóng đập, bó tre lăn tròn, trồi lên đập xuống. Chàng muốn thả tay cho chết, nhưng con chim vàng vẫn bay là là bên trên.

Tiếng chim hót lúc êm đềm như gió lùa trên đồng cỏ, thiết tha như sáo réo buổi chiều; lúc giục giã như vó ngựa đang phi, lúc lại giận dữ hơn sóng biển gào thét. Um Rúp vụt nhớ cánh đồng cỏ bao la, đồng lúa bát ngát, mương giăng chi chít, sông lượn ngoằn ngoèo. Chàng ôm chặt bó tre. Sóng đẩy cả tre, cả chàng vào bờ. Chàng nằm trên bãi cát trắng như muối, hạt mịn đều êm như đệm bông.

Hai chân duỗi thẳng, một tay gác lên trán, một tay để lên ngực. Chàng mơ thấy đã lấy cô gái chăn dê, vợ chồng chàng đã có hai đứa con, một trai một gái. Chàng đang ngồi bên vợ. Vợ chàng ngồi bên khung cửi, dệt vải hoa hình mắt gà, da cáo. Bầy dê nhà chàng chạy ra sân. Đứa con lớn của chàng ôm cổ con dê sừng nhọn lông mượt; đứa con nhỏ của chàng nắm cái sừng quặp con dê già to vú. Vợ chàng dệt một sợi, cuống buông hoa rõ thêm một chút; dệt hai sợi, cánh cái hoa lớn bằng hạt thóc chia mười. Chàng nhìn vừa mỏi mắt, thì vợ chàng dệt xong một chiếc lá, một cái hoa. Bỗng cái dao dệt gãy ngang khoảng giữa. Chàng lấy con rựa đẽo cái dao dệt khác cho vợ, tay đụng phải con chim vàng đang đậu ở trán. Um Rúp giật mình vùng dậy, nhìn trời nhìn biển. Thấy chủ còn sống, con chim múa nhảy reo vui. Biển rộng mênh mông, có hai con chim trắng rủ nhau đi tìm mồi. Trời cao lồng lộng, có hai con chim xanh đang tha rơm đi làm tổ. Chàng nhìn gần chỗ mình : chỉ có chàng và con chim vàng đang múa. Nhớ giấc chiêm bao, chàng tự bảo :

- Vợ ta dệt một sợi, cuống hoa mới rõ thêm có một chút, dệt mười sợi, cuống cái hoa mới bằng hạt thóc chia mười, mà vợ ta dệt được hàng nghìn cái hoa, cái lá, hàng nghin súc vải. Sao chí ta không bền, tay ta không siêng năng như vợ ta ?

Um Rúp đứng dậy, chân đi, miệng nói :

- Ta phải làm một cái cầu, sóng đập không vỡ, gió thổi không bay, không chìm xuống nước.

Chàng lại vào rừng chặt tre, đan phên, bứt dây. Làm đến đâu, chàng buộc chặt đến đó. Việc nặng nề, hàng trăm lần mệt, hàng nghìn lần khó. Chiếc cầu trườn dần ra biển chậm chạp như con rùa bò trên bãi cát, Um Rúp vẫn say việc như con ong làm tổ. Con chim vàng vẫn tha về cho chàng quả chín hoa thơm. Chàng nói với chim:

- Ngoài kia là biển khơi. Trong này là rừng rậm. Ở trên trời có sao sáng, trăng tỏ. Ở đây ta có chim vàng làm bầu bạn. Chim không tiếc công giúp ta, ta cũng vững chí làm cầu...

Um Rúp quên mỏi mệt. Ngày làm dưới ánh mặt trời, đêm làm dưới ánh trăng trong. Những đêm tối, chàng đốt đuốc, chẻ tre, chẻ lạt... Chiếc cầu đã dài gấp nghìn lần chiếc chiếu. Biển lại nổi sóng. Sóng cao, chập chờn, gió hun hút, đẩy chiếc cầu xiêu bên nọ, vẹo bên kia. Um Rúp cắn môi, vò đầu, đấm ngực, rồi chữa lại chỗ cầu bị cong, nối lại chỗ đứt.

Lần này, chiếc cầu dài đến đâu, Um Rúp đốn gỗ đè đến đó. Chàng lại bứt dây buộc đá làm neo thả xuống biển, cho gió thổi cầu khỏi bay, cho sóng xô khỏi dạt. Nhưng chiếc cầu yếu, hai bó tre làm phao chỉ đủ đỡ Um Rúp và một khúc gỗ. Đoạn nào không đè thì gió thổi, cầu bay, mà đè nặng hơn một chút thì cầu chìm. Nên chiếc cầu càng dài làm càng khó. Nối thêm được một đoạn, chàng phải kéo thanh gỗ gần đó đè lên, rồi lại chuyển những thanh gỗ gần đó, đè vào chỗ thanh gỗ vừa nhấc.

Việc chậm hơn kiến bò, muốn đè một tấm phên, phải kéo xê hàng nghìn cây gỗ. Nhưng Um Rúp không nản chí. Chàng làm không biết bao nhiêu lần gió đổi hướng, sóng đổi chiều. Đến khi tóc trên đầu chàng bị nắng đốt vàng như đuôi ngựa, ngọn tóc đều chẻ làm ba làm tư, thì chiếc cầu của chàng đã gối lên một hòn đảo thấp, là là ngang mặt nước. Um Rúp nhảy sang. Hòn đảo nổi bồng bềnh như quả bưởi trôi giữa sông. Xung quanh đảo, cá lội đặc nước. Con nào cũng to bằng hai bộ phản, dài như chiếc bè, mồm rộng, răng to. Thấy có bóng người, vị thần chủ đảo sai quân lên xem. Quân về báo lại :

- Có một người tóc vàng, áo rách, mặt đẹp, da đen, tay đỡ một con chim, tìm đường xuống đảo.

Lão thần chủ đảo nói :

- Người đến được đây ắt là người có chí lớn. Đón người ấy vào cho ta.

Um Rúp theo bọn người của đảo đi giữa hai hàng cá mập quẫy đuôi, cá xà há mồm. Chàng thấy hòn đảo chênh vênh giữa lòng biển, ngọn không nổi lên trên, gốc không sát đáy biển. Cá lội xung quanh đủ màu, đủ sắc, đủ dáng, đủ hình. Con thì trong như gương, con vàng như thau, con đen như than, con đỏ như máu. Thần Pô-Li ngồi giữa nhà đọc sách. Hai cô gái ngồi thêu áo phía sau, lưng hai cô gái thon như con ong, da trắng như ngà, mặt sáng như ngọc. Ngọc trai gắn trên áo, trên khăn lấp lánh như lửa chiếu mặt gương, như xà cừ chói nắng. Cả hai cô đều chưa có chồng. Lâu nay thần Pô-Li mong có chàng trai nào tìm đến thì gả. Trông thấy Um Rúp ông đã bằng lòng, bèn xếp sách lại hỏi :

- Hỡi chàng trai... đến chỗ không trời, không đất này, chắc có việc cần không thể chậm được?

- Bị oan, tôi mới lội biển đến đây tìm thần Pô-Li. Có phải ngài là... ?

- Ngươi tìm không nhầm. Ta là Pô-Li, thần biển. Ai đến được đây ắt là người có chí, công lao sẽ được đền bù. Nhưng chàng cứ cơm nước đã. Mọi chuyện sẽ nói sau.

Pô-Li giục hai con gái nấu cơm. Thấy Pô-Li ân cần, Um Rúp biết ý ông, liền bảo :

- Hỡi Pô-Li thần biển ! Việc gấp như lúa, xanh bị hạn ! Không thể chờ thêm một khắc, một giờ !...

Pô-Li gật đầu. Um Rúp lại nói :

- Kẻ ác phải chịu tội. Người ngay phải được như ý. Kẻ không đủ sức mạnh này, lội biển đến đây cầu thần Pô-Li giúp phép về đánh kẻ gian, cứu người bị nạn.

Hai cô gái đã bưng cơm lên, đi trên mặt nước dập dềnh mà cả hai đều bước uyển chuyển, mềm mại như sóng lúa giữa đồng, đẹp gấp mười lần cung tần, mỹ nữ trong triều. Pô-Li nhìn Um Rúp, rồi nhìn con gái, cười nói :

- Việc của chàng đáng tức, nhưng rồi sẽ xong. Cứ cơm rượu no say. Ra được đến đây, chàng đã mệt lắm rồi !

Um Rúp từ chối. Thấy chàng nóng lòng trị người ác, cứu người lành, Pô-Li khen chàng có chí, có nghĩa. Không nỡ cầm, Pô-Li liền trao phép cho chàng, và dặn :

- Ta cho chàng phép tùy ý. Có phép này, chàng không chết, ai đánh cách gì cũng đỡ được. Bao giờ xong việc, chàng trở lại đây.

Um Rúp cúi đầu lạy tạ, quay gót trở vào đất liền.

Từ ngày Um Rúp trốn khỏi triều, ngày đêm Cai-Clòn đem quân đi tìm kiếm. Nó cưỡi con ngựa đen đi đầu. Tai nó thính như tai mèo, phe phẩy như tai voi. Nghe động chỗ nào, nó sục vào chỗ ấy. Tìm trong núi không được, nó kéo quân ra bờ biển. Quân lính của nó khuạ từ ngọn cây đến gốc cỏ. Thấy Um Rúp từ ngoài khơi đi vào. Cai-Clòn cười, mồm xếch lên đến mang tai. Lưng con ngựa đen nó dang cưỡi gây oằn xuống. Nó bảo quân lính vây xung quanh và nằm im như mèo rình bắt chuột.

Um Rúp không hay biết, cứ dấn mãi vào vòng. Cai-Clòn thét lên, quân lính đứng dậy, người ken chặt như mấy trăm lớp rào. Um Rúp liền hóa con chim vàng thành ngựa, xé đường chạy vào núi. Cai-Clòn hóa lửa đốt rừng, hô phép đá lăn cây ngã. Lửa cháy ngút trời, khói bay mù mịt. Đá và cây cứ lăn ngược về phía Um Rúp. Um Rúp biến ngựa mọc cánh, bay vụt lên trời. Cai-Clòn hóa ngựa nó và ngựa của quân lính đều mọc cánh. Nó thét lên một tiếng, hơi trong mồm nó phụt ra, rạp ngọn lửa, tan hết khói. Trời đang mù, bỗng trong xanh, thấy Um Rúp bay lơ lửng trên không, Cai-Clòn thúc quân vây ráp. Quân lính của nó đông gấp nghìn lần bầy quạ. Um Rúp chỉ có một ngựa, một người.

Um Rúp cho ngựa ẩn vào mây, bay xung quanh mặt trời, lẩn vào giữa các vì sao. Nhưng chàng bay đến đâu, quân Cai-Clòn đuổi đến đó. Um Rúp vã mồ hôi. Con ngựa của chàng lông ướt như tắm. Hết đường chạy, Um Rúp hóa phép làm một cái rọ sắt có hom, để trống một lỗ. Chàng đứng bên trong, Cai-Clòn thúc quân chui vào. Quân, tướng của nó đều ở trong rọ như cá trong lờ. Um Rúp chui ra, bịt lỗ trống, hóa phép cho cái rọ sắt bay lơ lửng giữa trời. Hết ngày đến đêm, người không cơm, ngựa không cỏ, quân tướng Cai-Clòn chém giết lẫn nhau, lấy thịt nhau làm cơm, lấy máu làm nước. Quân của nó có mười phần, đã chết mất bảy, chỉ còn ba. Cai-Clòn nhớ đến phép làm bánh nôm-đa. Nó thét lên một tiếng, hơi tạt vào rọ, chiếc rọ sắt quay tròn rồi biến thành bánh. Quân lính nó bâu lại lấy bánh ăn thay cơm. Ngựa cũng ăn bánh thay cỏ. Ngựa no, quân no, Cai-Clòn thoát nạn, lại thúc quân đi tìm Um Rúp.

Um Rúp đáp ngựa xuống núi. Hòn núi chỉ mọc một thứ cây da đá, cây nào cũng mới ra quả lần đầu. Da cây láng trơn, lá rất rậm, quả đang chín bói, sai trĩu cành. Um Rúp xuống ngựa, hái quả da đá ăn. Quả mọng mật. Chàng vừa mới nhấm, vị ngọt vị chua đã tràn ra môi, thấm vào lòng. Càng ăn, chàng càng nhớ cảnh cũ, chuyện riêng. Gió rừng hiu hiu như có ai cầm quạt lông phe phẩy. Chàng ngả lưng xuống đám cỏ nen, gối đầu lên đá, mắt nhìn lơ lửng nửa xa, nửa gần.

Mặt trời xuống núi, bóng cây da đá dài hơn thân cây. Um Rúp thấy trên cây có một tổ chim xanh. Con chim mái đang ấp, chim trống tha mồi về cho vợ. Chim vợ ăn xong, rỉa cánh cho chồng. Um Rúp ngủ quên. Giấc mơ của chàng nối theo giấc mơ trước. Chàng thấy hai con chàng đã lớn. Vợ chàng đang dạy con gái dệt vải hình tròn như mắt gà, có khoang như da cáo. Đứa con trai chàng đang cưỡi con dê đực lông xù như đuôi bò, sừng to như quả chuối hột, quặp ra sau như quả chuối mùi hương. Chàng đến gối đầu lên đùi vợ. Vợ chàng lấy lược chải tóc cho chàng. Hơi ấm của vợ làm cho chàng ngủ ngon hơn. Chàng đưa tay co cổ vợ thấp xuống, thì nghe đất dưới lưng rung rinh, cây chuyển, cành kêu răng rắc, lá rụng ào ào. Um Rúp choàng dậy, quân của Cai-Clòn đã vây chặt bốn phía. Chàng kịp nhảy lên lưng ngựa. Ngựa bay vút lên mây. Cai-Clòn hóa phép cho ngựa nó và ngựa quân lính bay theo. Nó lấy mưu Um Rúp làm mưu mình, hóa một nửa quân lính thành sắt, dùng sắt đan thành một cái rọ, nhốt Um Rúp vào giữa.

Hết đường chạy, Um Rúp lách qua chém một nhát, luồn lại chém một nhát, nhảy tới đâm một đâm. Mỗi nhát chém, nhát đâm của Um Rúp, đứt đến vài mươi đầu người, đầu ngựa. Máu quân Cai-Clòn chảy xuống đất đông đặc như bùn. Đầu người, đầu ngựa rơi dầy như tro núi lửa phun ra. Hai bên đánh nhau được năm ngày, quân của Cai-Clòn đã mất quả nửa. Nó dồn hết quân còn lại, dàn thành trận hình chữ quá, cho quân dùng ná bắn Um Rúp. Quân hai bên bắn chéo lại, quân phía sau bắn tới, tên bay rào rào như vãi cát. Um Rúp chạy dài, thở hơi ra cả tai, cả mồm, đầu hết nghĩ ra được cái khôn. Chàng nằm rạp xuống, ôm chặt cổ con ngựa, than thở :

- Ngựa ơi ! Chim vàng ơi ! Có khôn thì cứu chủ !

Con ngựa của Um Rúp quay đầu lại, há to mồm, hít mạnh vào. Bao nhiêu tên của quân Cai-Clòn bắn ra đều chui vào mồm ngựa. Bụng con ngựa phình ra như một con sông lớn. Con ngựa lại biến bụng mình có một lò lửa, đốt cháy hết tên, phụt tro phụt bụi ra phía đít. Cai-Clòn cũng hóa máu lính, máu ngựa của nó thành lửa. Lửa phụt ra từ mũi người, mồm ngựa trùm kín Um Rúp. Lửa đỏ như mặt trời buổi sáng, vụt lên cao rồi sà xuống đất, cạn sông, khô đồng; cây, đá đều cháy thành tro, thành bụi. Con ngựa của Um Rúp phun ra một luồng nước to bằng mười con sông, dập tắt ngọn lửa Cai-Clòn.

Máu đã bị hóa thành lửa, quân của Cai-Clòn khô lại, thịt tiêu hết, xương đội da, mắt lồi ra ngoài. Ngựa của nó xù lông, hết thịt, lại bị nước xối, trôi hết xuống đất. Cai-Clòn bị thua to, phải chạy về triều lấy thêm quân. Um Rúp cũng xuống núi ngồi nghỉ.

Mồ hôi Um Rúp chưa ráo, ba cánh quân của Cai-Clòn đã ập đến. Cánh bên trái nhiều như đàn kiến, cánh bên phải đông như đàn ong, cánh phía sau đông như đàn mối. Ba cánh quân cùng xông vào, cánh phía sau dùng dao, mác đâm tới, Um Rúp lánh bên này chém, lánh bên kia chặt. Quân của Cai-Clòn chết như cá bị duốc (đánh thuốc độc). Nhưng Cai-Clòn thí người, thúc quân xông tới, vây chặt Um Rúp giữa núi. Um Rúp lên đỉnh cao, hóa đá lăn xuống, đè quân Cai-Clòn tan xương nát thịt. Cai-Clòn tưởng Um Rúp cũng hóa thành đá, liền cho quân chạy theo những tảng đá đang lăn mà tìm. Nhưng Um Rúp đã trốn vào hang. Tìm không được, Cai-Clòn lại cho quân trở lại vây núi.

Nắng trưa đổ xuống như lửa đốt. Mồ hôi Cai-Clòn toát ra. Da nó đen láng, lầy nhầy như mỡ trộn nhọ nồi. Mặt da cóc của nó càng xù xì, các u các cục đỏ mọng như quả sung chín nấu. Tai nó đỏ phung và nở to như nấm khô ngâm nước. Mắt nó lồi ra ngoài. Nó thét, đất chuyển, núi nghiêng, cây rung, lá đổ :

- Hỡi tướng, hỡi quân ! Hãy phá tan quả núi; tìm khắp hang sâu, khe dài... bắt cho được Um Rúp...

Quân Cai-Clòn tràn lên núi nhiều như kiến cỏ. Không còn đường nào ra. Um Rúp phải vào hang sâu. Trong hang tối như ban đêm. Con ngựa của chàng nháy hai mắt như hai ngọn đèn, sọi đường cho chàng đi. Chàng vào đến đâu, quân Cai-Clòn theo đến đó.

Quân nó chen nhau chật như nêm cối, đội quả núi lên. Quả núi nghiêng bên này, chao bên kia như cái chảo để ngửa. Um Rúp sang bên kia hang, hóa phép cho hòn núi sập xuống. Quân Cai-Clòn bị núi đè chết hết. Nó tức, mũi không kịp thở, bụng phình to như cái cối xay. Nó liền biến tất cả các dây núi thành dãy nhà; biến cây lớn thành lính gác, cây nhỏ thành ná, thành cung, thành tên, thành giáo mác. Tất cả núi cây, rừng cây biến thành quân của Cai-Clòn. Um Rúp đi đến đâu cũng bị bắn, bị chém, bị đâm. Chàng phải giục ngựa bay vút lên trời. Từ trên cao, chàng gò cương ngựa nhìn về kinh thành mấy khắc, rồi dồn mây hóa thành núi, góp gió vo thành đá ném xuống quân Cai-Clòn. Quân Cai-Clòn bị trúng đá, bị núi đè chết hại rất nhiều. Cai-Clòn giật mình. Cái mặt đen của Cai-Clòn hóa màu xanh. Thân hình to cao của nó bé lại một chút, thấp xuống một ít. Hoàn hồn, nó biến núi thành rơm, thổi bay lên trời cho vướng chân ngựa Um Rúp; hóa phép cho số quân chết sống lại, mọc cánh đuổi theo. Um Rúp hóa lửa phun ra đốt rơm cháy thành tro, đốt người cháy hết tóc, bỏng hết da. Quân Cai-Clòn rơi cả xuống biển, xuống sông, xuống đất. Xác quân rơi xuống biển, cá mập cá xà ăn không hết. Xác quân rơi xuống đất, quạ, kênh kênh khoét hai con mắt ăn cũng đủ no. Cai-Clòn ôm đầu vò tóc, cấu tai. Đôi mắt đỏ nó lại lồi ra. Nó dẫm chân, đất lún quá gối. Dậm chán, nó tức giận đi bộ về triều.

Về đến triều, cái mặt da cóc của Cai-Clòn vẫn còn xệ như cái rổ rách. Vua hỏi, nó không nói. Vợ nó hỏi, nó cũng không trả lời. Thấy gái đẹp nó không thèm nhìn. Thấy thịt ngon, rượu quý nó cũng không buồn nếm. Nó cứ đi đi lại lại, đầu gục xuống, mắt nhìn ngang, môi mím chặt. Vua sai bày tiệc cho nó ăn, chọn gái đẹp múa cho nó xem, hát cho nó nghe. Bữa tiệc có đủ mười thứ rượu ngon chôn đủ tuổi, trăm món thức ăn khác mùi khác vị, và một trăm cô gái đẹp mặc áo mỏng như cánh chuồn, múa hát.

Cai-Clòn ngồi ăn. Ăn miếng đầu nó không nhai, uống bát rượu đầu nó không chép miệng. Điệu múa đầu nó cũng không nhìn. Ăn đến món thứ hai, uống bát rượu thứ hai, đến điệu múa thứ hai nó cũng chưa vui. Ăn, uống, xem đến lần thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu... nó cũng chưa chịu cười. Mãi đến khi trông thấy một cô gái mặc áo mỏng nhất, múa mềm nhất, lưng uốn dẻo nhất, mắt liếc dài nhất, Cai-Clòn mới thở phì ra. Nó nói với vua:

- Đánh trên trời, ta đã thua nó. Đánh dưới đất nó cũng không thua ta; đánh trên núi, trên rừng nó thắng ta càng nhiều. Bây giờ ta phải lừa nó xuống biển...

Vua đắc chí phụ họa :

- Lừa nó xuống biển, nước ngập ở dưới, đốt lửa ở trên ; con chim không thoát được, con chồn không chui được... kế thật là hay, mưu thật là sâu. Ngươi đáng gọi là người tài trí nhất trong mọi người có tài trí; đáng là tướng giỏi, tôi trung của ta. Tốn bao nhiêu ta cũng chịu, mất gì ta cũng không tiếc. Ngươi đi ngay...
bắt nó về cho ta.
- Lần này bắt nó dễ như bắt chim trong lồng,
cá trong chậu. Nó bay trên trời thì cho lửa đốt,
nó bơi ra biển thì cho thuyền bơi theo, nó chạy
vào bờ thì cho ngựa đuổi. Còn nó lặn mãi dưới
nước là nó tự... giết nó.
Vua nịnh tướng, tướng nịnh vua. Cai-Clòn
lạy vua ba lạy, đầu cúi sát đất ba lần, rồi bỏ
dở bữa tiệc, thúc quân đi vây bắt Um Rúp.
Um Rúp ngồi trên núi cao, giữa muôn ngàn
cây lá. Gió thổi hiu hiu, rồi thổi mạnh. Sao trên
trời lấp lánh rồi rạng dần. Trăng chui khỏi mây,
sáng hẳn. Ngồi nghe gió, nhìn trăng, trông sao,
Um Rúp nói một mình :
- Sao mờ rồi tỏ, trăng lu rồi sáng; mà việc
ta làm chưa sáng ; người ta yêu thương còn bị
nhốt mãi trong triều !...
Chàng nói chưa hết lời thì quân Cai-Clòn
dã đến nơi. Quân nó đông như kiến cỏ, người
này chen sát vai người kia, đạp cỏ tươi nát thành
dất trắng, dẫm rạp cây rừng, Cai-Clòn sai lính
chặt hết cây, đốt hết cỏ, chẹn hết các lối đi, hun khói vào các hang sâu, hang cạn. Quân từ trên núi dàn ra như cánh cung, dồn Um Rúp xuống biển. Um Rúp biến con chim vàng thành chiếc thuyền, lấy lông chim làm buồm, cho thuyền chạy ra khơi. Cai-Clòn hóa quân ngựa nửa bay trên trời, có cánh như chim; nửa bơi dưới nước, có lông như lông ngỗng, có chân như chân vịt. Hai thứ quân cùng đuổi theo Um Rúp dùng ná bắn. Tên bay xuống nước, sóng cuộn như trời giông. Thuyền Um Rúp lắc qua lắc lại, mũi chúi xuống, lái vểnh lên.

Chiếc thuyền đã chạy tít ra khơi, nhìn dãy núi trong bờ nhỏ như hạt đậu. Quân Cai-Clòn vẫn đuổi sát phía sau. Hai bên chỉ còn cách nhau một tầm tên bắn. Um Rúp núng thế, hóa chiếc thuyền thành ngựa có lông ngỗng, chân vịt; hóa mình giống như một tên quân Cai-Clòn, rồi xông thẳng vào giữa đám quân Cai-Clòn. Quân Cai-Clòn không biết ai là Um Rúp, ai là người bên mình nên không dám bắn, không dám đâm, phải quay trở lại.

Len được vào bờ, Um Rúp liền hóa ngựa rụng lông ngỗng, mọc cánh chim, bay lên trời. Nhưng con ngựa chưa rụng hết lông, chưa mọc đủ cánh thì Cai-Clòn trông thấy. Nó đưa hai bàn tay vun quân dôn lên hai bên, thành hai đống cao, rồi đổ ụp xuống đè Um Rúp. Um Rúp vọt lên, thoát được, nhưng con ngựa bị đè chặt. Um Rúp khán Pô-Li, nhờ Pô-li dùng phép cứu hộ ngựa. Cai-Clòn nghe được lời khấn, liền trói chặt con ngựa Um Rúp, khiêng về nộp vua, và nói :

- Trước Um Rúp nhờ phép của Pô-Pi, ta mới chưa bắt được nó. Nay nhờ có phép Pô-Li nó mới thoát khỏi tay ta. Ta đã bắt được ngựa, như chặt được chân nó rồi. Nếu rút được phép Pô-Li thì nó như chim bị nhổ hết lông.

Nghe Cai-Clòn nói, mặt vua đang đỏ bỗng tái, môi vua đang cười bỗng mím chặt. Mồm vua nhai qua nhai lại, răng kèu ken két :

- Ta với Pô-Li không thù không oán. Chân ta không đụng đến đất Pô-Li, tay ta không đụng đến người Pô-Li, sao Pô-Li dám cho phép cho con ta, xui con ta phá triều ta ? Ta phải đi kiện! Ta kiện ngay bây giờ !

Vua lập lễ tế Pô-tề-ta, kiện Pô-Li. Pô-tề-ta buộc Pô-Li rút lại phép, Pô-li đứng dưới biển gọi to:

- Hỡi chàng Um Rúp gan lớn, óc khôn, chí bên! Ta không tiếc phép với ngươi, nhưng cha ngươi lại tiếc. Pô-tề-ta buộc ta rút phép. Ngươi đừng oán, đừng giận ta.

Gió đưa lời Pô-Li đi khắp núi, khắp sông, đưa đến tai Um Rúp. Phép "tùy ý" đã vô hiệu. Um Rúp đứng trơ một mình ? Không ngựa, không chim, không ai bè bạn. Biết Um Rúp mất phép, Cai-Clòn mừng rỡ, người nó cao thêm, lưng nó béo ra, mặt phì, tai vểnh. Vua cũng cười, mồm rộng đến mang tai, mặt vênh vênh, trán giật lia lịa, mi mắt nhảy lên nhảy xuống. Bộ râu sừng bủm của vua càng bủm, đôi lông mày đuôi chó càng cong, mồm phồng phồng như khi ngậm hạt thịt. Cai-Clòn bước đến gần vua, vừa lạy, vừa nói :

- Nó đã như con cá mắc cạn, như con chim rụng lông, ta muốn bắt lúc nào thì bắt !

Vua cũng nói :

- Nó như con trâu đã buộc, như con dê trong chuồng rồi ! Ta phải khao quân, thưởng tướng bảo dân cả nước ăn mừng triều đình ta còn thịnh, ngai vàng ta còn vững.

Vua lại cười rộ lên rồi giục :

- Hỡi quân, hỡi tướng ! Hãy chọn ngựa hay, quân khỏe, đi một ngày đến rừng xanh, mặt biển. Đi cho chí phía nam, giáp phía bắc, rao cho dân nước ngừng mọi việc, ăn mừng ta sắp giết được kẻ làm nghịch, làm phản. Ai không nghe lệnh ta, ta chém bằng gươm, ta đốt bằng lửa, ta cho hổ xé, voi giày.

Quân lính cưỡi ngựa hồng, ngựa ô, ngựa bạch, đi rao khắp bốn phương. Nghe lệnh vua, người đi cày dừng trâu; người đi gặt ngừng liềm; người đi đốn gỗ trở về; người đi săn tháo lưới. Nhà nào cũng đóng cửa chuồng dê, buộc trâu vào cọc. Đường không có người đi, làng nào cũng làm tiệc, làm đám. Trống đánh inh tai, kèn thổi váng óc, nhưng không ai vui. Tưởng Um Rúp và cô gái chăn dê đã chết, ai cũng nhớ, cũng thương. Ai đã trông thấy chàng và cô gái chăn dê, đều kể chuyện cho nhau nghe. Ai chưa trông thấy, đều đi hỏi những người đã gặp. Anh chăn dê cho Um Rúp con chim vàng càng nhớ nhiều hơn. Anh buồn, anh khóc suốt ba hôm, nhịn ăn ba ngày, rồi đi từng nhà, gọi từng người cầu trời, khấn phật cho Um Rúp và cô gái chăn dê:

- Hỡi người làng, dân nước ! Hai con chim đẹp, chim lành, hai con chim làm ta vui, không làm ta sợ. Một con bị nhốt trong rọ, một con bị lạc trong rừng. Con trong rọ không biết chết hay sống. Con ngoài rừng không biết mất hay còn ! Dân làng hãy thương hãy nhớ, cầu phật cho họ sống, cầu trời cho họ gặp nhau.

Anh chăn dê mang lễ đi cúng. Người làng cũng mang cơm vào rừng; mang rượu, thịt vào hang; mang trứng ra gốc cây to; mang gà luộc, dê luộc ra miếu, ra bến sông, bến nước, vái trời cho hai người đừng chết, chóng gặp nhau.

Um Rúp đi lạc vào một quả đồi không thấp không cao, thon như quả dứa. Trên đỉnh đồi có một cây xay nhiều cành, lá sum sê, quả sai như bông lúa, vỏ mịn như nhung. Chàng hái quả xay ăn no rồi nằm dưới gốc cây ngủ một giấc dài bảy ngày, bảy đêm. Lúc tỉnh dậy, chàng trở về chỗ gặp cô gái lần đầu. Con sông vẫn rẽ đôi, ôm hòn cù lao như người mẹ ôm đứa con vừa tròn một tuổi. Nước đưa hạt xay táp hai bên bờ. Cây xay mọc thẳng hàng, to đều như cây cau trồng một lửa. Một đàn nai gặm cỏ, núp nắng dưới bóng cây thị. Con nai đực sừng như cây xương rồng, đang liếm đùi, liếm mặt cho con nai cái, mông to, cổ dài. Con nai con lông mượt, luồn qua chui lại dưới bụng mẹ. Um Rúp thấy mình trơ trọi, chẳng có ai là bầu bạn, lòng chàng đau như có ai cào. Chàng thở dài chán nản, rồi tự hỏi mình :

- Hay là ta trở về triều, lấy công chúa nước láng giềng, lấy cả cô gái chăn dê ?

Um Rúp đi xuôi theo con sông. Hai nhánh sông nhập giòng, đổ nước xuống thác đá. Nước dội ầm ầm, sủi bọt lên như nước sôi trong chảo. Đứng nhìn nước dội một lúc, Um Rúp tức cha, thù Cai-Clòn. Máu nóng dồn lên đầu, chàng vồ ngực, vỗ trán :

- Nước chảy đá mòn. Lòng ta thua giòng nước hay sao ? Ta phải giành được ấm vàng, lấy cô gái chăn dê làm vợ !

Chàng nhìn về phía kinh thành, lòng nóng như dầu sôi, lửa đốt. Lúc đó, cô gái chăn dê trong chiếc ấm vàng đang bị hành hạ. Vua truyền quân đem ra chín con hổ văn, chín con voi một ngà, đào một cái ao, đốt một đống lửa, và bắt dân chúng phải đến xem. Vua ngồi trên giàn cao, mắt nhìn khắp lượt, đầu lắc bên này, lắc bên kia; mặt phinh phính, da tái xanh xanh. Vua thét to lên, mọi người đều nghe tiếng :

- Dân nước hãy trông đây. Con chăn dê, cái rơm cái rác này làm hại con ta, khuấy loạn triều ta... Nó phải chết nát thây, cháy xương, hòa tro đốt nó vào nước cho hết kiếp ! Hỡi dân nước. Ai phạm lại tội này, sẽ bị phạt nặng hơn trăm lần, nghìn lần.

Vua đưa bàn tay vẫy một cái, quân lính ném chiếc ấm vàng vào giữa chuồng hổ. Đàn hổ châu vào cắn xé, nhưng con nào cũng bị gãy răng, long vuốt, đứt lưỡi, vẹo mồm, mà chiếc ấm thì trơ trơ. Vua nhăn mặt, đập cái gậy xuống bàn, thét :

- Đem nó ra cho voi chà !

Quân lính ném chiếc ấm vào giữa chín con voi to như những đống rơm, ngà nhọn như mũi lao. Con thì lấy chân giẫm, con lấy ngà đâm, con thì lấy vòi cuốn quật. Chiếc ấm không vỡ mà chín con voi đều gãy ngà, què chân, vòi bị vặn lại như vỏ đậu phơi khô. Đàn voi hét inh ỏi. Mặt vua nhớn nhác, mồ hôi ra ướt áo như người mắc mưa. Tay vua run, chân vua cũng run. Vua liền bước xuống giàn cao, cầm gậy đập chiếc ấm vàng. Nhưng đập bên này, cây gậy chệch sang bên kia. Vua lại làm gậy đâm. Đâm phía trên, gậy chệch xuống dưới. Quân lính cố nhịn cười, còn dân thì cười ra tiếng. Lòng thương xót cô gái đã được chút đền bù. Những cặp mắt vừa khóc đã ráo nước.

Đánh mãi không trúng. Đâm cũng không xong, vua vứt gậy, đưa tay vồ chiếc ấm. Nhưng vừa cúi xuống định vồ, cái mũ trên đầu vua đã rơi xuống đất. Vua chạy đi nhặt mũ, thì lại bị tuột giầy. Nhặt được giầy thì đứt dải áo. Dân chúng cười rộ. Vua càng lúng túng, vồ được cái này thì rơi cái khác. Vua không dám nhìn lên, môi mím chặt, cố xách cái ấm ném vào lửa. Đống lửa tắt ngấm. Vua lại mang cái ấm ném xuống ao. Chiếc ấm nổi lềnh bềnh. Vua ôm mặt, nhảy lên xe. Chiếc xe gồng lên gồng xuống. Cổ hai con dê cũng bị trẹo lên trẹo xuống. Vua ngã ngửa ra sau, úp sấp phía trước. Các quan chạy đến đỡ, đẩy xe vua vào triều. Dân làng tràn ra xung quanh cái ao, mỗi người nói với cô gái, vẫn trong chiếc ấm vàng, đủ lời :

- Em là con trời !

- Mạng em lớn hơn mạng vua !

- Vua không giết nổi em đâu !

- Em sẽ sống mãi mãi !

-...

Dân làng trở về. Con ngựa của Um Rúp cũng trốn được, biến lại thành chim vàng, mang tin cô gái chăn dê, đi tìm Um Rúp. Chim bay đi khắp trời cao, biển rộng. Lông đuôi, lông cánh nó rụng gần hết, mà tìm chưa thấy chủ. Bấy giờ Um Rúp vẫn ngồi dưới gốc cây, bóc quả xay ăn cho đỡ đói, và nghĩ cách tìm người tài học phép lạ về cứu cô gái chăn dê. Ôn chuyện xưa, sách cũ, chàng nhớ đến Pô-Lóa, vị thần ở trên không, có nhiều phép lạ. Chàng chưa nghĩ ra cách nào để đến được nhà vị thần, thì đã ngủ thiếp giữa luồng gió mát, thổi nhẹ như ru. Chàng mơ thấy con trai đã có vợ, con gái đã có con. Vợ chàng ngồi ngoáy trầu, trông cháu cho con gái dệt vải, dệt chăn. Lúc đó con chim vàng bay đến đỗ giữa ngực chàng. Chàng giật mình thức dậy. Con chim hót lên mấy tiếng vui mừng chào chủ rồi rũ lông sắp chết. Um Rúp vội vàng xuống sóng ngụm nước lên cho chim uống, cơi áo u cho chim khỏi lạnh. Một lúc, con chim tỉnh lại. Nó mở mắt, vẫy đuôi, vỗ cánh vui mừng. Nhìn chim múa, nước mắt Um Rúp chảy tràn xuống má. Chàng so mình với con chim :

- Con chim vàng ăn sâu, mà còn biết tìm đường đến với chủ. Ta là người, sao không biết tìm đường đến thần Pô-Lóa để cầu xin phép lạ?

Um Rúp lại đặt chim lên vai, đi ngược về núi.

Chàng đi đã lâu, chọn đã nhiều cách mà vẫn còn bối rối trong lòng. Ở sâu dưới đất, đào hang xuống được. Ở giữa biển khơi, bắc cầu mà ra. Nhưng ở giữa trời, không làm sao trèo lên được. Bây giờ, mặt trời đã lặn. Trăng đầu tháng đã lấp ló đầu non. Mây kéo dồn về phía tây, nối liền mặt trăng với đỉnh núi. Um Rúp trèo lên hòn núi cao nhất, định nắm mây trèo lên trăng, lên sao. Chàng chưa đến nơi thì trời đã sáng. Mây tan, núi với trời xa cách nhau vời vợi. Um Rúp nhìn về hướng đông, mặt trời chưa mọc. Một giải mây hồng, từ trên không buông xuống đất. Um Rúp lại xuống biển, định lấy làm thang, trèo lên trời. Nhưng chàng xuống chua khói núi, thì ngày đã hết, đêm đã buông. Mây đen phủ kín bốn bề. Chàng với tay nắm mây, co chân bước... Nhưng mây loăng như gió, không nắm, không với, không trèo được. Um Rúp nản lòng, ngồi tựa lưng vào hòn đá, mắt ngước nhìn trời cao.

Hòn đá Um Rúp đang tựa, cao bằng nóc nhà, tròn như quả trứng, mốc như da voi, nhẵn như đá mài. Xung quanh cỏ không mọc, đất bằng, tơi như tro. Trời đang mưa lất phất như bắn bông. Hạt mưa nhỏ như hạt bụi, se đất tơi dính lại với nhau. Có đàn mối ra tha đất này xây tổ. Đàn mối đông đến ức vạn con. Mỗi con tha mỗi lần được một hạt bằng đầu sợi tóc. Um Rúp ngồi xem, mắt không chớp, người không cựa quậy. Trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mây che khuất mất nửa mặt trăng. Um Rúp nằm co dưới chân hòn đá : ngủ một giấc đến sáng. Lúc thức dậy, chàng thấy mình nằm giữa hai hòn đá. Hòn mới mọc là tổ mối. Chỉ trong một đêm, đàn mối đã đùn một cái tổ cao quá nóc nhà. Um Rúp ngắm trước xem sau, xem từ dưới lên, trên xuống. Chàng cười một mình :

- Con mối nhỏ, còn đắp được ụ cao. Con người lớn hơn, có sức đắp thành núi. Ta muốn lên nhà Pô-Lóa, tay ta phải đắp thang, xây cầu !

Um Rúp ra tay đào đất đắp thang. Chàng làm quên ăn, quên ngủ và không biết mệt. Chàng đào mặt đất xung quanh đã lõm thành ao, thành hồ, thành đầm, mà chiếc thang của chàng mới cao gấp ba ngọn núi. Đứng ở trên, thấy mây bay ở dưới, trông cây rừng bé thấp như cái nấm rơm. Bỗng trời đổ mưa, nổi gió, những hạt mưa to như cái chảo, cái nồi, xói lở chiếc thang từng mảng, rồi gió xoáy, chiếc thang gầy, đổ ngang. Trong chốc lát, chiếc cầu đã thấp như cái đống rơm. Nước trôi, đất lấp đầy cả những ao hồ. Um Rúp nhăn mặt, mím môi, mắt không chớp. Chàng thét vang rừng :

- Mưa xói đất chứ không xói được lòng ta. Mưa có phá hỏng thang đất thì ta xây thang đá.

Um Rúp lại vác đá xây thang. Đá lớn, mỗi lần chàng vác một tảng. Đá nhỏ, hai vai hai hòn. Vác cho đến khi cổ sần, vai sầy, da bàn tay chai như gót chân, thì các dãy núi xung quanh hết đá. Chiếc thang của chàng đã cao vượt mây. Đứng trên đỉnh đã nhìn thấy nhà Pô-Lóa. Pô-Lóa ở giữa không trung, lấy trăng làm đèn, lấy sao làm lửa, lấy mây đen làm rào, mây trắng làm vách, mây xanh làm tranh lợp, mây hồng, mây đỏ làm rèm.

Um Rúp mải đứng nhìn cảnh lạ nhà thần trời, thì chiếc thang bỗng thấp dần xuống. Thang cao, đá nặng, đất dưới chân chiếc thang lún xuống. Trông nhà thần trời xa dần rồi mất hẳn. Um Rúp nói to, nửa giận nửa mừng :

- Ta đã tìm được nhà Pô-Lóa ! Thang đất có đổ, thang đá có gãy, thì ta làm thang bằng cỏ, bằng cây. Ta phải đến cho được nhà Pô-Lóa!

Um Rúp đi bẻ cây, bứt cỏ, bó lại từng bó; chất cỏ nằm ngang, xếp cây nằm dọc... Chàng làm không biết mệt, tay sần như cổ trâu, thịt rắn lại, da chai, gai cào không rách. Con chim vàng càng tha được nhiều thị thơm, xay chín cho chủ ăn, múa hót cho chủ nghe. Um Rúp được vui tai, vui mắt, no lòng. Chàng bẻ cây, bứt cỏ, rừng xung quanh quang như cánh đồng vừa gặt, thì chiếc thang đã cao hơn mây, vượt trăng, đụng sao. Nhìn xuống thấy hết núi rừng, với lên trên đã đụng vào nhà Pô-Lóa.

Pô-Lóa ở lẫn giữa các vì sao. Nhà không có nóc, không có nén, Um Rúp đứng trước cửa, cúi đầu gọi to :

- Hỡi thần Pô-Lóa ! Thần trăng, thần sao, thần mây, thần gió. Thần ở trên cao sao không thấy nỗi oan, nỗi khổ ở dưới trần !

Pô-Lóa vén mây hồng nhìn ra :

- Hỡi chàng trai lạ mặt mới đến đây một lần! Đã lên đây sao không vào nhà mà đứng ngoài kêu oan, kêu khổ ?

Um Rúp bước vào, Pô-Lóa ngồi trên một vì sao to. Xung quanh ông có muôn vàn vì sao nhỏ, lấp lánh như nắng chói vào gương, như trăng soi vào nước. Nhiều cô gái đẹp, mình mặc mây hồng, vai khoác mây trắng, đầu chít mây xanh, tay cầm mây đỏ, múa may ẩn hiện giữa muôn vàn vì sao, trông dịu dàng mềm mại như gió, nhẹ như sương. Pô-Lóa sai hai cô gái mang rượu ngon, quả lạ ra mời. Um Rúp không ăn, không uống. Chàng quỳ xuống cúi đầu :

- Hỡi thần Pô-Lóa ! Người tôi yêu đang bị nhốt trong chiếc ấm vàng; đang bị voi chà, hổ xé... Lòng tôi chưa vui, mồm chưa muốn ăn cái ngon. Thần cho tôi xin phép lạ để cứu nàng. Trễ một khắc, lòng càng đau. Người đi cứu chưa ngồi uống rượu được.

- Ta biết chàng từ khi chàng đào hang tìm Pô-Pì, bắc cầu ra biển tìm Pô-Li. Ta đã thấy chàng đắp đất làm thang lên đây tìm ta, chính ta làm sập thang đất, đổ thang đá để thử lòng chàng. Bây giờ chàng đã lên được đây, ta có thứ gì chàng được thứ ấy. Phép thần ta để ở chòm sao phía đông. Gươm thần để ở chòm sao phía tây. Ngựa thần để ở chòm sao phía nam. Quân thần để ở chòm sao phía bắc. Hỡi chàng trai, chàng muốn chọn thứ nào thì chọn, muốn lấy bao nhiêu thì lấy.

Thần Pô-Lóa dắt Um Rúp ra chỉ bốn chiếc cầu nối liền bốn chòm sao. Cầu xuống phía đông, làm bằng mây hồng. Cầu lên phía tây, làm bằng mây đỏ. Cầu ra phía bắc, làm bằng mây xanh. Cầu vào phía nam, làm bằng mây trắng. Cầu nào cũng dài, đứng bên này nhìn không thấy bên kia. Chiếc nào cũng bay lên hạ xuống, chao qua lắc lại như gió thổi vào tấm vải đang phơi. Nhìn xuống dưới cầu, chẳng thấy nhà, chẳng thấy núi non, cây cỏ. Chỉ thấy một vùng đen ngòm sâu thăm như nhìn vào đêm tối. Um Rúp rợn người lạnh gáy. Pô-Lóa bảo chàng :

- Cầu này là cầu sống, cầu chết, cầu mất, cầu còn. Cầu đi đến chỗ cao sang, cầu cũng dẫn tới chỗ cùng cực. Ai già gan thì đi, ai non gan thì đừng ! Ai có chí lớn hãy bước qua, ai tham sống thì dừng lại !

Um Rúp cắn chặt răng, mím chặt môi, nắm chặt hai bàn tay, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng, chân bước mạnh sang chiếc cầu phía tây.

Chiếc cầu chao lắc, đung đưa, Um Rúp chênh vênh như đứng một chân trên võng, như đứng một chân trên thuyền. Nhưng đi được bảy mươi bước chân, thì chiếc cầu cứng như đá, ngắn lại nghìn lần.

Um Rúp đi thẳng vào kho để gươm. Gươm thần nhiều như đũa cắm trong ống. Cái thì lưỡi bầu, cái thì mũi tròn, cái thì lưỡi sắc cả hai bên. Cái nào cũng sáng lóa như mặt trời. Um Rúp chọn một thanh gươm lưỡi cong như quả me, cán có khắc hình con chim chèo bẻo. Chàng chống gươm ướm thử. Mũi gươm chạm đất, cán cao ngang đầu; chém vào tảng đá trắng, tảng đá trắng đứt đôi như quả dưa, chém tảng đá xanh, tảng đá xanh đứt đôi như quả mướp; chém vào đống cỏ khô, sắc ngọt như chém vào cây chuối; chém vào đống rơm, đống rơm đứt làm đôi như chém vào cái bánh bột. Um Rúp mừng quá, vừa múa gươm vừa reo :

- Hỡi quân tướng Cai-Clòn ! Lần này đầu chúng mày sẽ rụng như sung, đứt nhiều như rơm, như cỏ.

Rồi chàng đi qua các cầu đến các kho phía đông, phía nam, phía bắc để chọn phép, chọn quân, chọn ngựa. Nhớ lại hai lần trước, nửa chừng bị đòi phép, chàng nói với Pô-Lóa :

- Làm sao cho ngựa đừng mất giữa đường, cho thuyền đừng thủng giữa biển khơi ?

Pô-Lóa cười :

- Hỡi chàng trai khôn ngoan, gan dạ. Chàng biết nhìn việc trước mắt, lại biết nhớ chuyện đã qua. Ta đâu nỡ giữa đường cắt cương ngựa, giữa biển chặt mái chèo. Chàng hãy yên lòng, khi nào cần đến thì gọi ta... Ta sẽ cho thêm phép thần, ngựa hay, quân giỏi. Chàng hãy mau mau trở lại, đừng để đến ngày mai.

Um Rúp cúi đầu lạy tạ Pô-Lóa, rồi biến chim vàng thành ngựa, xé mây bay xuống. Con ngựa đen như lông quạ, mượt như vỏ xay, cổ cong như lưỡi liềm. Nó xếp cánh, co chân lao qua trăng, vút qua sao, lượn qua mây, qua gió. Um Rúp cầm gươm ngồi trên lưng ngựa, mặt dở tròn dở dài, mắt sáng không chớp; lông mày ngang trông vừa gan vừa bướng. Nhìn tướng chàng, cũng đủ biết chàng muốn làm việc gì, được việc ấy.

Xuống đến đất, con ngựa phóng qua núi cao, bay qua sông lớn, chạy về đồng bằng. Đồng đang cày, ngựa phóng từ bờ ruộng bên này sang bờ bên kia, chân không nghe chạm đất; gió cuốn theo ào ào, nước dưới sông, dưới ao; nước trong ruộng đều rập rình chao sóng. Ngựa chạy hút gió tạt vào nón người đi cày, đi bừa, lật nghiêng sang một bên, ép quần áo sát vào da. Người đi cày, đi bừa nghiêng nón nhìn lên. Thấy Um Rúp, họ thả chuôi cày, thả thừng trâu vẫy gọi:

- Hỡi hoàng tử Um Rúp ! Chàng vẫn còn sống? Chiếc ấm vàng chưa vỡ, cô gái chăn dê chưa chết... đang mong chàng trở về.

Um Rúp gật đầu, vẫy tay chào lại. Người đi cày đi bừa vẫy tay tiễn đưa. Ngựa Um Rúp bay qua làng. Gió cuốn, tranh trên các mái nhà rung rinh. Người trong nhà chạy ra. Người già che mắt nhìn, đưa tay chỉ, người trẻ vỗ tay reo:

- Um Rúp ! Um Rúp ! Hoàng tử đã về, có gươm, có ngựa, có đủ cả yên cương. Hỡi hoàng tử ! Chiếc ấm vàng không vỡ, cô gái chăn dê còn sống... đang chờ chàng về.

- Hỡi dân làng tốt bụng ! Ta là hoàng tử Um Rúp. Ta còn sống, ta không chết. Chiếc ấm vàng, người ta thương đang chờ ta. Bao giờ ta thắng, ta sẽ trở lại. Ta đang đi... Ta chào dân làng tốt bụng !...

Um Rúp vẫy chào mọi người rồi phi ngựa chạy thẳng về triều.

Cai-Clòn dẫn quân đi tìm Um Rúp tối ngày, sáng đêm. Quân nó đi chật đường, hò hét vang núi, dậy sông, ầm ĩ làng xóm :

- Hỡi người giã gạo trong nhà, người đi cày đi cấy... ai thấy Um Rúp thì chỉ mau, nói mau!

- Hỡi người đi chặt củi, đốt than trong rừng, đốn gỗ trong núi... Hỡi người đi lấy mật ong, đi đào khoai, săn thỏ... ai thấy Um Rúp trốn ở núi nào, hang nào, núp trong bóng cây nào... Hãy nói mau, chỉ mau....

Gào thét mỏi mồm, chẳng ai trả lời. Tìm mãi không được, Cai-Clòn phải đưa quân về. Gần đến cửa thành thì gặp Um Rúp. Hai bên gặp nhau như hai thác nước gặp nhau. Cai-Clòn giục quân chạy tới, Um Rúp cũng thúc ngựa xông vào. Con ngựa của Um Rúp chồm lên, bờm ép sát vào da, cổ cong như lưỡi liềm, lông mượt như vỏ quả xay. Mặt Um Rúp dở tròn dở dài, trông vừa gan vừa đẹp. Đôi lông mày ngang trông vừa dữ, vừa nghiêm. Đôi mắt của chàng nhìn quân Cai-Clòn không chớp. Um Rúp chém bên phải, bên trái; chém phía trước, phía sau, đầu quân Cai-Clòn rụng như sung nấu gặp gió lớn, rơi chật đường, chồng lên nhau. Nhưng quân nó đông như kiến gặp trời lụt. Um Rúp chém phía sau, quân phía trước xông tới; chém bên phải, quân bên trái tràn vào. Máu của quân Cai-Clòn chảy ngập đất. Ngựa Um Rúp bơi trong máu như vịt bơi trong ao. Cai-Clòn thấy Um Rúp thất thế, giục ngựa xông vào, rút gươm Rắc-ca-la-pà ra chém. Um Rúp vung gươm lên đỡ. Hai bên quần qua, luồn lại như hai con rắn giao nhau. Hai lưỡi gươm chạm nhau kêu to như trời rền, lửa văng ra như tia chớp.

Vừa đánh Cai-Clòn, vừa đánh với quân của nó, Um Rúp đuối sức, nhấc lưỡi gươm lên không nổi. Chàng ngửa mặt lên trời khấn :

- Hỡi Pô-Lóa, thần trăng thần sao ! Hãy cho quân tài tướng giỏi xuống cứu kẻ gặp nguy. Kẻ một mình phải đánh nhau với ngàn tướng, vạn quân...

Thần Pô-Lóa nghe Um Rúp than cầu liền cho quân xuống cứu. Quân Pô-Lóa vạch mây bay xuống như mưa. Cai-Clòn giục ngựa, vung gươm chém qua chém lại, chặt trên đâm dưới. Quân Pô-Lóa rụng đầu, thủng bụng, đứt tay, gẫy chân nằm chất đống cao như núi. Rồi một quân chết của Pô-Lóa biến thành năm bẩy quân sống; một ngựa què biến thành năm bảy ngựa lành. Mộtchọimười, mườichọimộttrăm, Cai-Clòn chém không chết, đâm không xuể, phải gọi thêm quân. Quân Cai-Clòn tràn đến đứng chật đồng, đầy rừng, kín núi; quân có ná bắn ná, có gươm dùng gươm; quân tay không thì đốt rừng, đốt cỏ. Quân của Um Rúp cũng xông vào. Người chém người, ngựa cắn ngựa; lửa bên này cháy qua, lửa bên kia phun lại. Khói lên mù trời, tro bay ngập đất. Quân Cai-Clòn đánh không lại, phải rút chạy. Người chen người, ngựa lấn ngựa, dẫm lên nhau chết non một nửa. Um Rúp thúc quân đuổi theo. Cai-Clòn liền hóa chông sắt ngăn quân Um Rúp. Chông dày như lúa dưới ruộng, nhọn như mũi kim ngả chồm về phía trước, đâm thủng cả ruột người, ruột ngựa. Quân Um Rúp phải dừng lại. Cai-Clòn đắc chí, vỗ tay cười. Hơi trong mồm nó phụt ra, thổi đứng lông bờm ngựa, nước bọt văng mạnh như nước máng xối. Um Rúp lại ngửa mặt lên trời khấn :

- Hỡi Pô-Lóa ! Hãy phá hộ chông sắt cho quân đuổi theo kịp giặc.

Pô-Lóa nhìn xuống, thấy chông cản đường, liền rải xuống một lớp nước nhẹ như sương. Quân lính không ướt áo, mà chông sắt của Cai-Clòn đều biến thành cỏ. Ngựa của Um Rúp đang đói, thấy cỏ non chạy đến tranh ăn. Chỉ một loáng đám "chông sắt" hết sạch. Cai-Clòn mất vía, chạy về triều báo vua :

- Um Rúp lại có phép thần. Thần Pô-Lóa cho nó gươm thiêng phép lạ. Phép của nó làm hại quân ta. Không trừ được phép nó thì mất ấm vàng, mất tướng, mất quân, mất cả ngai vàng, cung điện!

Vua giẫm chân xuống đất như con trâu lười kéo cày, đầu lắc qua lắc lại như người dở dại dở điên. Mặt vua tái ngắt, phị ra, mắt đục ngầu, mồm nhai không, răng nghiến ken két. Trán vua giật mạnh, râu sừng bủm càng cong, vua liền lập đàn thỉnh Pô-tề-ta, kiện Pô-Lóa :

- Quân tôi mất một nửa, tướng mất gần hết vì phép Pô-Lóa.

Pô-tề-ta đứng trên chòm sao cao nhất gọi Pô-Lóa:

- Vua I-tá I-ta muốn Pô-Lóa thu quân, thu phép lại...

Pô-Lóa nói :

- Gươm của thần, phép của thần thì thần cho, sao I-tá I-ta không muốn cho... Của thần, thần không đòi, sao I-tá I-ta lại muốn đòi ?

Vua I-tá I-ta nghe nói, tức mình mắng Pô-Lóa:

- Hỡi thần Pô-Lóa. Ta không có thù oán với người, sao người gây thù oán với ta ?

- Hỡi I-tá I-ta vua dưới đất, vua của loài người! Ta với ngươi không thù không oán, ta với Um Rúp cũng không oán không thù. Của ta, ta cho ai là quyền của ta; của ngươi, ngươi cho ai là quyền của ngươi. Phép ta giúp Um Rúp là phép trừ oan giải khổ. Không có oán, không có khổ phép hết thiêng, ngựa thần gươm báu cũng hết thiêng.

Kiện không được, vua I-tá I-ta đóng chặt cửa thành, cùng Cai-Clòn bàn mưu tính kế.

Vua và Cai-Clòn xem hết sách vở viết về binh thư thao lược, mà không tìm được cách đánh Um Rúp. Quân Um Rúp vây chặt hàng nghìn lớp ngoài thành. Nhưng thành vua cao, dày, quân trèo qua không được, xô cũng không ngã. Um Rúp hóa phép cho nước biển dâng lên, tràn vào thành. Nước chảy vòi cong như đầu rồng cổ ngựa, gào réo inh tai nhức óc; cuồn cuộn như thác đổ, triều dâng. Cai-Clòn núng thế, run chân run tay, mồ hôi ra ướt áo. Người nó bé lại một tí, thấp xuống một chút, mặt da cóc của nó càng lầy nhầy, méo bên nọ, trề bên kia. Nó liền hóa phép cho cả kinh thành nổi dềnh lên. Nước dâng cao bao nhiêu, kinh thành cao bấy nhiêu. Um Rúp hóa gió. Gió bốn hướng cùng thổi lại một lúc. Kinh thành chao bên nọ, lắc bên kia, trồi lên hụp xuống như cái rọ trôi giữa sông. Cột kèo nhà gãy răng rắc, mái vỡ từng mảng, thành đổ từng khối. Quân trong thành dồn sang bên nọ, đổ sang bên kia. Quân càng đổ, kinh thành càng chao càng lắc, người trong thành càng lộn xộn. Vua sợ, nói không rõ tiếng. Cai-Clòn bủn rủn chân tay. Hoàng hậu khóc như trẻ con đòi mẹ :

- Um Rúp ơi ! Cứu mẹ. Mẹ chết, mẹ thấy con...! Con ơi ! Con thương mẹ. Đừng bắt mẹ chết non. Con để cho mẹ con chết già.

Nghe mẹ than, Um Rúp chùng gân, buông lơi cương ngựa, lưỡi gươm thần rơi xuống đất. Chàng vội vàng hóa phép cho nước rút, rồi phi ngựa về rừng. Nhớ cô gái chăn dê, nhưng thượng mẹ, chàng nghì giận cha, ghét Cai-Clòn, rồi ngủ thiếp lúc nào không biết.

Nước rút, kinh thành hạ dần về chỗ cũ. Cai-Clòn nghĩ được kế giết trộm Um Rúp. Nó hóa ra một loại thú lạ, sừng bò, mồm rắn, răng hổ, đuôi bò cạp. Loại thú này tràn vào rừng nhiều không đếm được. Thấy Um Rúp nằm dưới bóng cây. Thú lạ bâu lại như dòi. Hàng vạn cái mồm, hàng vạn cái sừng, cái đuôi chợt xông vào húc, cắn, đốt Um Rúp. Um Rúp giật mình, thì giờ không còn đủ để đánh một con, mà xung quanh chàng có đến muôn vạn con thú. Chàng liền hóa phép thành muôn vạn sợi dây trói chặt mồm, sừng, đuôi tất cả thú dữ. Cắn không được, loại thú cuộn tròn lại như những đống rơm. Chúng đập mình lồng lộn, con nọ xát vào con kia, gãy sừng, tuột da, xổ ruột chết hết. Um Rúp dồn xác thú lạ, biến thành một con rắn to và dài như một dãy núi, đủ sức uống cạn nước biển, nuốt trôi một lúc hàng vạn ngôi nhà.

Con rắn bò về thành, đầu nó đã đến đồng bằng mà đuôi ở ở tận rừng xanh. Nó bò đến đâu, cây cỏ dạt ra đến đấy, gió nổi ào ào như bão. Dân làng trông thấy Um Rúp và con rắn, vỗ tay reo hò, chọn lời lành chúc :

- Hoàng tử lại có rắn thần, người làng rất mát bụng. Cô gái chăn dê chắc được cứu. Lần này chắc hoàng tử xong việc !

Bò đến kinh thành, con rắn há mồm. Mồm nó to như cái vung, kinh thành chỉ bé như cái miệng nồi. Trong lúc đó, Cai-Clòn đang nghĩ nát óc nhức tai. Nó đi qua, đi lại : mặt xị, môi trề. Vua bày rượu quý thịt ngon, cho gái đẹp ra múa hát, vuốt ve nhưng mắt Cai-Clòn không rời quyển sách viết binh pháp. Thấy Cai-Clòn bối rối vua càng run:

- Ta phải thua nó rồi chăng ?

- Cứ đánh, đánh đến cùng. Còn một tên quân cũng đánh ! Còn Cai-Clòn còn đánh.

Cai-Clòn mở cửa thành giục quân xông ra. Quân lính cưỡi ngựa, cầm gươm, mang cung, tên, giáo, mác ào ra thành đông như nước chảy. Thấy con rắn to, quân lính hoảng hồn, cuống chân cuống tay, gươm, tên, giáo, mác, rơi đầy đường. Con rắn nuốt cả người lẫn ngựa như voi nuốt pọ-chọa. Nuốt hết quân lính, con rắn há mồm ngoạm lấy kinh thành. Cai-Clòn đã nghĩ được kế hay. Nó hóa kinh thành thon như ngôi tháp, hai đầu nhọn như cây đinh, đâm thủng cả hàm trên hàm dưới của rắn thần. Con rắn lăn tròn như khúc gỗ trên núi lăn xuống. Người trong kinh thành cũng lăn theo đè lên nhau gãy chân, quẹo cổ, nát ruột, dập gan. Con rắn lại cắm đuôi xuống đất, dựng đứng lên trời, đầu cao tới mây xanh, rồi ngà xuống. Đất dưới mình con rắn lún thành con sông dài. Vua, quan, quân, tưởng hết hồn hết vía. Cô gái chăn dê nằm trong chiếc ấm vàng, không biết việc gì, cũng kêu cứu :

- Hỡi hoàng tử Um Rúp ! Chàng ở phương nào? Hãy cứu em ! Hỡi các vì sao trên trời, các loài cá ở dưới nước, các loài chim ở trên rừng... Hỡi gió thổi trên cây, mây ở trên cao... Hãy đưa dùm lời ta đến tai Um Rúp !

Um Rúp không nghe được lời cô gái chăn dê, nhưng nghe tiếng hoàng hậu khóc. Thương mẹ, chàng bỗng hết giận, chân run, tay buông gươm. Con rắn thần nằm im như chết. Cai-Clòn lại nghĩ ra kế, nó hóa lửa từ trong bụng con rắn đốt ra, Khói bay ra mồm rắn nhiều như mây trời giông. Thấy con rắn bị cháy, Um Rúp tỉnh lại hóa khói thành ngựa, thành quân : ngựa và quân ẩn vào mây che kín một vùng. Ngày trông không thấy mặt trời. Đêm không thấy trăng sao.

Ngày không có, đêm kéo dài, triều đình chết lặng. Cai-Clòn hóa lửa phun lên mây, đốt quân Um Rúp, quân Um Rúp chết cháy, rơi xuống đầy đất chật sông. Dồn đống trên kinh thành. Hoàng hậu kinh hoàng, lăn ra kêu khóc. Đánh nữa sợ mẹ chết, Um Rúp lại thu quân về rừng. Được lúc rỗi rãi, Cai-Clòn cầu mẹ, cầu cha, khấn thánh thần tìm mưu đánh Um Rúp. Um Rúp cũng ngồi dưới gốc cây, nghĩ kế giết Cai-Clòn. Bỗng chàng nghe tiếng than của cô gái chăn dê vọng lại :

- Chàng ở phương nam hay phương bắc ? Ở phía mặt trời mọc hay mặt trời lặn ? Ở trong rừng sâu hay giữa biển khơi ? Trong núi hay trong hang? Ở giữa đồng cỏ hay ở trong nhà. người nghèo... hãy về cứu em...

Nghe lời than, Um Rúp quặn ruột, thắt gan, liền hóa một quả núi mọc lên giữa kinh thành, đội bổng cả triều đình lên giữa chín tầng mây. Đỉnh núi nhọn, kinh thành to, không đủ chỗ tựa, kinh thành lắc lư như cái nón để ngửa. Cai-Clòn đang ngồi đốt hương trầm, đọc binh thư bị ngã đổ nhào. Vua, quan, quân lính đều nhắm mắt, không ai dám nhìn ra ngoài. Um Rúp lại hóa gió, gió từ núi thổi xuống, từ biển thổi lên, từ trong thổi ra, ngoài thổi vào, dạt cả đá, trốc cả gốc cây. Mái ngói trong thành bay tung lên như lông chim bị tên bắn. Các đầu rồng, đầu phượng đẽo bằng gỗ bị gió thổi gãy hết. Cột đèn vặn vẹo đổ xiêu, tiếng động ầm ầm, người điếc cũng nghe được. Cả kinh thành chợt đổ xuống chân núi. Người làng thấy gió to xô nhà cao, kéo xem. Họ nói với nhau:

- Lần này chắc là lần cuối ! Gió to thế này, nhà cao thế kia không sao khỏi đổ ?

Cai-Clòn đương ngồi đọc sách, nhưng mắt không nhìn thấy chữ, đầu hết nghĩ ra kế hay; nó vứt sách vừa chạy vừa than :

- Gió to thế này, kinh thành chịu sao nổi!

Vua ngồi úp mặt trong hai bàn tay. Cả triều đình không ai nói, chỉ còn tiếng hoàng hậu rên rỉ.

Gió lớn không nghe mẹ than. Um Rúp cho gió thổi mạnh hơn. Triều đình chao qua đổ lại. Nhưng Cai-Clòn đã nghĩ ra cách. Nó hóa núi ngăn gió. Núi vụt cao xung quanh như hàng vạn bức thành. Um Rúp hóa gió thổi bạt núi. Núi đổ nhào, đỉnh cắm xuống biển, chân chỏng lên trời. Cá, cua, tôm, mực bị nước tạt lên bờ, nhiều như lá rụng. Cai-Clòn lại hóa lửa. Nhiều ngọn lửa to phun ra bốn hướng, đẩy gió lùi lại tận gốc. Um Rúp cho gió thổi mạnh hơn trăm lần. Gió bốn hướng dồn lửa về kinh thành, cả triều đình chìm trong biển lửa. Thấy lửa thiêu, sợ mẹ chết. Um Rúp run rẩy :

- Mẹ ta chết mất ! Mẹ chết mất mẹ ơi ! Được vợ mất mẹ thì đau lòng. Được vợ còn mẹ lòng mới hết đau.

Um Rúp thu gió, trở về rừng, nghĩ cách đánh sao cho được vợ, còn mẹ, mặc cha, mà giết được Cai-Clòn. Gió đang mạnh bỗng tắt ngấm. Dân làng lại lo :

- Gió lặng rồi ! Lửa tắt rồi ! Triều đình vẫn còn ở trên đỉnh cao, chỗ cũ. Ai thắng ? Ai không thắng ? Hoàng tử Um Rúp đi đâu rồi ?

Um Rúp đang ngồi nghĩ kế :

- Đốt bằng lửa, thì vợ còn, mẹ chết. Nhấn cả triều đình xuống nước thì chiếc ấm nổi, mẹ chìm. Cho gió thổi mạnh nữa, thì chiếc ấm không bay mà mẹ bay. Tung cả kinh thành lên trời thì vợ còn mà mẹ chết... đau đầu ta quá !

Um Rúp lập một đoàn quân không người, không ngựa, không giáo mác cung tên. Chàng dùng mọi thứ phép hóa thành ong ruồi, ong mật, ong vè vẽ... do ong mặt quỷ dẫn đầu. Đàn ong bay về triều che kín nắng, chắn kín gió, lấp cả mặt trời, che khuất cả trăng sao. Kinh thành chìm ngập trong bóng tối. Cai-Clòn không biết Um Rúp dùng phép gì, leo lên thành nhìn xung quanh. Không thấy ngựa, không thấy thú dữ, rắn to, chỉ thấy trời tối và tiếng kêu ù ù, nó tự hỏi và tự trả lời:

- Mây chăng ? Không phải !

- Ngựa chăng ? Cũng không !

- Mưa chăng ? Sao không thấy ướt ?

- Gió chăng ? Sao không thấy ngọn cây rung?

Cai-Clòn không đoán biết được gì, nên thúc quân cưỡi ngựa mang cung, cầm kiếm ra đứng chật xung quanh thành chờ ngăn quân Um Rúp. Đàn ong cũng đã chờ nhau đông đủ; con yếu đã theo kịp đàn, con non đã già, cánh già ngạnh nọc. Thình lình, từ trên mây, đàn ong bổ xuống thành, xông vào đốt người, đốt ngựa. Quân lính Cai-Clòn vứt giáo vứt gươm, vò đầu vò tai chạy trốn. Ngựa cũng nhảy, đá lung tung. Triều đình lộn xộn như tranh của. Cai-Clòn bảo lính ngụp xuống ao, chui vào nhà, đóng kín cửa. Đàn ong vẫn bay theo. Người lặn xuống nước, ong bay rà rà ở trên, người vào nhà đóng cửa, ong chui vào các lỗ đầu cột đầu kèo. Cai-Clòn lại hóa cả quân lính của nó thành người sắt. Người sắt ong đốt không thủng da, nhưng nặng đi không được, ong lại chui vào mũi vào mồm họ. Quân lính khạc ra ong, thở cũng ra ong. Nhưng khạc ra thì ít mà hít ong vào thì nhiều. Cai-Clòn bí thế bỏ chạy. Vua cũng chạy theo; chạy đến đâu ong đuổi đến đó. Vua phải chui xuống gầm giường, lăn vào nhà dệt, giật chăn gái thợ dệt, thợ bắn bông, trùm đầu. Cai-Clòn đã nghĩ được phép lạ. Nó hoá tất cả quan quân, người ngựa thành sáp ong. Sáp dẻo, ong bâu vào bị dính cánh, dính lông. Ong chết rơi chật đường, chật sân, đặc nước. Người làng thấy vậy lại lo cho Um Rúp :

- Nhiều lần chắc thắng lại để cho thua! Chẳng biết Um Rúp có còn phép gì nữa không?

Cai-Clòn cũng đắc chí vỗ tay, reo cười:

- Ta đánh trăm trận thắng trăm, nghìn trận thắng nghìn.

Rồi nó biến người sáp thành người thật, hò hét vang dậy:

- Hỡi quân lính! Hãy vui lên, cười lên. Hãy chạy thật nhanh, bắn thật trúng, chém thật mạnh. Um Rúp hết phép tài rồi. Nó chỉ có một người một ngựa; ta có muôn vạn quân binh. Ta sẽ thắng nó. Ta đã thắng trăm trận, nghìn trận... Còn đánh ta còn thắng nữa.

Vua mở hội mừng công, thưởng cho Cai-Clòn một trăm gái đẹp, một trăm gánh thịt ngon, một trăm ché rượu quý và vô số ruộng sâu trâu nái. Vua lại cho quân lính ra các làng, muốn thứ gì của dân thì lấy. Quân tràn ra thành, tỏa vào nhà dân cướp thóc nếp, trâu béo, dê tơ. Dân ghét, không dám nói mà chửi thầm trong bụng :

- Hỡi hoàng tử Um Rúp ! Chàng ở đâu ? Sao không về chém hết đứa tham, giết hết đứa gian cho dân làng hả dạ ?

Um Rúp đang đi vòng quanh một bụi tre ở giữa rừng, ngồi xuống một tảng đá, nghĩ cách đánh trận sau. Búp măng ở dưới đất chui lên, đội hòn đá Um Rúp đang ngồi lệch sang một bên. Rồi ba, bảy búp măng khác nhoi lên lật hòn đá đổ úp. Um Rúp đứng dậy xoa tay :

- Lần này ta phải đánh Cai-Clòn năm bảy thứ một lúc như năm bảy búp măng lật hòn đá này. Phải hóa núi ghênh thành, làm nước dâng, làm mưa, gió, sấm, sét, hóa lửa, ong, rắn...

Um Rúp giục ngựa về triều, làm nước dâng ngập thành. Cai-Clòn hóa cho kinh thành cao lên. Nước cao bao nhiêu, kinh thành cao bấy nhiêu. Cai-Clòn ngồi yên một chỗ, vỗ tay cười:

- Thằng con nít lại giở phép đã thua. Con dê non cứ muốn trêu con hổ.

Um Rúp hóa gió. Gió thổi bay ngói, long cột nhà, kinh thành đu đưa lắc lư. Cai-Clòn hóa lửa; lửa đẩy gió lùi ra xa. Um Rúp hóa mưa dập tắt lửa.

Kinh thành nghiêng hẳn sang một bên. Cai-Clòn hóa phép cho cả kinh thành bay bổng lên không.

Um Rúp hóa sấm sét từ trên trời đánh xuống. Kinh thành quay tròn như con chim gẫy cánh.

Cai-Clòn hóa kinh thành thành một khối sắt.

Um Rúp cho nước ngập lên trên.

Cai-Clòn hóa kinh thành thụt sâu vào lòng đất.

Um Rúp hóa núi đội kinh thành lên cho quân ong vào cắn, đốt.

Cai-Clòn hóa quân của nó thành người sáp ong.

Um Rúp lại hóa quân người tràn vào. Quân sáp ong của Cai-Clòn mềm mà chậm, bị quân ngừơi của Um Rúp giết chết vô kể.

Cai-Clòn liền hóa những tên quân còn sống thành sắt.

Um Rúp hóa nước ở dưới dâng lên, lửa ở trên cháy xuống. Quân sắt của Cai-Clòn chìm nghỉm dưới đáy.

Hết nghĩ ra mưu, hết tìm ra kế, không còn quân để chống lại, Cai-Clòn giục vua chở hoàng hậu chạy ra thành. Um Rúp giục ngựa đuổi theo.

Tay cầm cương ngựa, tay cầm thanh gươm thần vung qua vung lại, mắt Um Rúp nhìn thẳng vào gáy Cai-Clòn. Khuôn mặt dở dài dở tròn của chàng lúc này trông càng ngang, càng đẹp, gió ép đôi lông mày của chàng sát vào da. Ánh mặt trời chói vào lưỡi gươm của chàng trông vừa kính, vừa sợ.

Con ngựa của Um Rúp phi nhanh như gió. Cổ vươn lên cong như lưỡi liềm. Bờm ép sát vào cổ. Bốn vó không nghe chạm đất. Ngựa của vua và của Cai-Clòn chạy cũng nhanh như mũi tên. Đuôi con ngựa Cai-Clòn thẳng như căng dây, tóc Cai-Clòn cũng vung ra phía sau thẳng như đuôi ngựa. Um Rúp chỉ cách nó bảy sải tay, đã thấy cô gái chăn dê trong chiếc ấm hoàng hậu đang đeo bên lưng mà không sao đuổi hơn lên được.

Hai bên đuổi nhau tối ngày rồi sáng đêm. Đường ngựa chạy đã dài hơn đường đi vòng quanh đất nước. Bụi dưới chân ngựa bay mịt mù. Um Rúp đuổi vua, đuổi Cai-Clòn chạy đến đâu, dân làng ở đấy đều tràn ra xem. Họ leo lên ngọn cây, đứng trên mái nhà, mắt nhìn theo, miệng cười, tay vỗ, chọn lời lành chúc Um Rúp :

- Um Rúp đã thắng ! Con cá đã gặp nước, con rồng đã gặp mây. Hỡi chàng hoàng tử... Chỉ cần bẩy sải tay nữa thì được ấm vàng, được vợ.

Um Rúp gật đầu cám ơn dân làng, dồn sức giục ngựa xốc tới. Con ngựa của Um Rúp chạy nhanh lên thêm được năm sải tay. Đuôi tóc của Cai-Clòn đã đụng đầu con ngựa chàng cưỡi. Chàng buông cương, nhoài người lên, chém một nhát. Tóc Cai-Clòn bị đứt một mảng dài hai gang tay. Nó giật mình ngã sấp xuống đất. Con ngựa của nó lồng lên, gạt vua và hoàng hậu ngã xuống vệ đường. Um Rúp vừa gò cương ngựa, vung gươm chém Cai-Clòn thì tên tướng mặt da cóc, mắt ốc nhồi này đã kịp ném lưỡi gươm của nó sang cho vua, rồi hóa phép biến thân nó nhập vào thân hoàng hậu ! Um Rúp nhảy xuống ngựa, vung gươm, toan chém cả hai. Nhưng lưỡi gươm còn cách cổ hoàng hậu một sợi tóc thì chàng rụt lại. Giết Cai-Clòn thì chết mẹ. Để mẹ sống thì không giết được Cai-Clòn ? Hoàng tử Um Rúp chống gươm, đứng ngẩn ngơ. Cô gái chăn dê thấy chàng ngập ngừng, ngoi đầu ra ngoài chiếc ấm vàng, thúc giục :

- Chém, chém nhanh đi... Um Rúp. Nó là giặc của chàng. Để nó sống thì chàng chết, mẹ chết. Chém đi... Chém nhanh đi...

Um Rúp vung gươm lên rồi lại hạ gươm xuống. Chàng không nỡ giết mẹ để giết cả Cai-Clòn. Nhưng tên vua ở phía sau đã lẻn đến. Nó cầm thanh gươm của Cai-Clòn chém trộm Um Rúp.

Đầu Um Rúp đã rơi khỏi cổ, nhưng thanh gươm thần chàng còn nắm trong tay. Con ngựa cũng đứng yên một chỗ. Cai-Clòn liền thoát ra khỏi thân hoàng hậu, chạy đến giật thanh gươm quý. Thanh gươm loé ra một luồng ánh sáng như trời chớp, bay vút lên không. Con ngựa cũng co căng bay vụt lên mây. Cai-Clòn không cướp được của báu, thét lên một tiếng. Vua giật mình ngã sấp. Hoàng hậu ngã ngửa. Mãi bà mới hoàn hồn, đến ôm xác con. Máu Um Rúp vọt ra, bay lên không, tụ lại thành một giải mây hồng. Chiếc ấm vàng cũng mang cô gái chăn dê bay theo, hóa thành một ngôi miếu nhỏ, mái uốn cong, có rồng chầu bốn góc. Xà ngang, xà dọc có chạm, trổ. Mỗi góc cột có một con kỳ lân ngồi canh.

Đám mây hồng - máu của hoàng tử Um Rúp, bay đến trùm lên ngôi miếu. Cả hai cùng bay lơ lửng trên không, rồi bay vòng về phía đập nước, gốc thị, đồng cỏ... Người quanh vùng cùng ra khấn vái, nhớ thương, mỗi nhà làm một ngôi miếu, giống như ngôi miếu đang bay, để thờ chàng hoàng tử có tài, có chí, và cô gái chăn dê hiền lành, xinh đẹp. Cứ về chiều, khi tắt nắng, ngôi miếu và đám mây hồng lại bay về phía tây, đỗ bên cạnh mặt trời lặn. Ngôi miếu lại biến thành một quả núi xanh cao vút. Đám mây hồng tụ trên đỉnh núi đó và dát một lượt mỏng trùm xuống xung quanh.

Footnotes

  1. (Trang 315) Đây là một truyện thơ dài trên dưới 2.000 câu được đồng bào Chăm ưa thích.

  2. (Trang 329) Loại quả rừng, khi mới chín ửng đỏ, to bằng ngón chân cái.

  3. (Trang 329) Loại quả rừng, vỏ mỏng, màu vàng tươi.

  4. (Trang 340) Phụ nữ Chăm thường mặc áo hai màu, màu từ ngực trở lên khác với màu từ ngực trở xuống.

  5. (Trang 340) Phụ nữ Chăm để nguyên mảnh vải quấn quanh nửa dưới thân người làm váy.

  6. (Trang 346) Chiếc lọ làm bằng bạc, lớn hơn quả cam, dùng đựng mảnh xương sọ người chết để đem thờ, sau khi đã hoả táng.

  7. (Trang 350) Pô-tề-ta : Theo truyền thuyết dân gian của dân tộc Chăm, đó là vị thần cai quản các vị thần. (Như Ngọc hoàng hay thượng đế trong truyền thuyết của dân tộc Kinh).

  8. (Trang 360) Nôm-đa : Tên một loại bánh làm bằng bột gạo nếp.

  9. (Trang 362) Trong nguyên văn viết : Đầu rơi như pui thành pơ-rộ. Pui thành pơ-rộ tiếng Chăm có nghĩa là núi lửa. Chúng tôi thấy dùng chữ núi lửa có vẻ hiện đại quá, nhưng không tìm được từ gì diễn đạt rõ nghĩa hơn nên phải để như vậy.

  10. (Trang 362) Chữ "quá" trong văn tự Chăm có hình dáng như hai gọng kìm, giống chữ V trong văn tự Việt.

  11. (Trang 389) Theo truyền thuyết dân gian dân tộc Chăm, Rắc-ca-la-pà là một loại gươm thần.

  12. (Trang 396) Một loại quả rừng nhỏ hơn quả ổi, voi rất hay ăn.

Title:
Folktales of Cham People
Authors:
Contributor: Center for Cham Studies, Ninh Thuan
Resource Types:
Text
Place of Publication:
Vietnam
Date Created:
2000
Formats:
Digital
Languages:
Vietnamese
Subjects:
Ethnic Nationalities--Vietnam, Folk literature, Vietnamese
Publisher:
Ethnic Culture Publishing House
Access Condition:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.