50. Thằng Khổ (Jà ri Băh)
Thuở trước có một cặp vợ chồng, đều mồ côi, trời xui đất khiến cho hai người kết thành vợ chồng, cuộc sống rất khó khăn, làm ăn ngày càng thiếu thốn, cơm không đủ no, áo không đủ mặc. Đã thế, vợ lại mang thai đến ngày tháng hạ sinh được một đứa con trai đặt tên là Jà ri Băh.
Ông bà nuôi con từ khi chào đời cho đến mười lăm, mười sáu tuổi, thì ông bà lâm bệnh mất đi, để lại đứa con đơn côi không nơi nương tựa, quần áo rách rưới không đủ che thân, chỉ đóng khố bằng vỏ cây. Hằng ngày Jà ri Băh thường vác leng, xách ní ra đồng tìm bắt ếch, không may hôm ấy bắt được con ếch lại không có dây cột, đành phải lấy tấm khố cột ếch. Cột xong xách đến bìa mương chợt thấy một sợi dây leo, Jà ri Băh bứt để sẵn định tắm xong cột ếch, lấy khố bao lại để về làng. Đang tắm bỗng con quạ từ đâu bay đến tha con ếch bay đi mất, mang theo cả tấm khố. Tắm xong Jà ri Băh muốn lên không được vì không có tấm khố che thân, đành phải dầm mình dưới nước.
Mãi đến trưa mới thấy một cô gái làng đội lu đến lấy nước ở bến dưới, cô gái ấy đã có chồng được một mặt con. Đến mương, cô gái trông thấy Jà ri Băh đang dầm mình dưới nước ở bến trên, cô gái cất tiếng năn nỉ :
- Hỡi anh, xin lên bờ cho em lấy nước, con em đang khóc ở nhà.
Jà ri Băh vì mình trần truồng, muốn lên nhưng thấy ngại ngùng e thẹn, cô gái cứ van xin năn nỉ mãi, Jà ri Băh thật lòng trả lời rằng:
- Thân tôi mình truồng, tôi muốn lên cho cô lấy nước, nhưng lòng thấy rất khó.
Cô gái thấy Jà ri Băh nói thực, cô đành phải lấy khăn bịt đầu của mình quăng xuống cho anh che thân.
Ở nhà, chồng chờ mãi, chờ lâu không thấy vợ lấy nước về, phần thì con khóc, dỗ dành mọi điều con cũng không nín, anh phải bồng con ra mương tìm vợ. Đến nơi, anh thấy Jà ri Băh choàng khăn bịt đầu của vợ mình để che thân, đem lòng tức giận ghen tuông chửi mắng vợ :
- Tại sao bỏ con khóc ở nhà lại đây tâm sự với trai ?
Vợ thấy vậy van xin tỏ bày sự việc cho chồng thương xót, nhưng chồng một mực không nghe, cứ chửi rủa và đuổi phải theo Jà ri Băh, người vợ tấm tức ngồi khóc, than thân trách phận, thấy vậy Jà ri Băh khuyên lơn và bảo :
- Về đến nhà, cô cậy người đến năn nỉ với chồng, may ra chồng đem lòng thương hại.
Cô gái vâng theo lời khuyên của Jà ri Băh, khi về nhà, cô cậy nhờ những người có chức phận, có uy tín trong làng cùng lễ vật dẫn đến nhà chồng tỏ rõ sự việc, chồng cô từ chối, nhất định đuổi vợ ra khỏi nhà, đến chung sống với Jà ri Băh. Người vợ lấy làm buồn rầu bởi câu chuyện không có thế mà chồng lại gầy việc ghen tuông; chửi bới, đánh đập. Người vợ phật lòng đi đến với anh Jà ri Băh mà than rằng :
- Nghe lời khuyên của anh, em đã cậy người mang lễ vật đến năn nỉ, nhưng chồng em không thuận, cứ đuổi em về chung sống với anh. Đối với em, chỉ có trời và anh mới thấu rõ tấm lòng, hay là định mệnh xui khiến cho hai chúng mình? Em đã thề cùng ông trời "nếu ai có dã tâm xấu thì con kênh kênh mổ nó, ai có xấu lòng thì con quạ mổ nó, còn ai không có mà nói có, sẽ mù đôi mắt".
Không cách nào nữa, cô gái xin kết nghĩa cùng Jà ri Băh và xin thề từ bỏ quê hương theo Jà ri Băh đến tìm nơi khác làm ăn cho khuất mắt. Jà ri Băh trả lời lại rằng :
- Thân tôi lúc này rất đau khổ, áo chưa đủ mặc, cơm chưa đủ no, tôi không dám kết nghĩa cùng cô, bởi tôi quen sống khổ một mình.
Cô nàng cứ van xin năn nỉ mãi, Jà ri Băh thấy không nỡ lòng, đành thuận lời kết nghĩa.
Một hôm Jà ri Băh cùng cô đi tìm nơi khác làm ăn, đến nhà một ông bà tuổi đã già, hoàn cảnh cũng cơ cực, Jà ri Băh xin được ở tạm, ông bà đem lòng thương xót cho cây cối, che thêm phía sau nhà bếp cho vợ chồng Jà ri Băh ở. Hằng ngày Jà ri Băh cũng vác leng xách ní ra đồng tìm bắt ếch hoặc làm mướn, phận vợ cũng đi tìm việc làm hướng khác. Ba tháng trôi qua, vợ chồng làm ăn cũng thấy đỡ, áo đủ che thân, cơm đủ no sáng chiều.
Thấy vợ chồng ông già đem lòng thương, Jà ri Băh cậy nhờ ông già dẫn đi tìm nơi phát rẫy, ông già thuận rồi dẫn đi, nhưng nơi phát rẫy ấy rất xa, sáng đi chiều về không kịp. Bởi thế Jà ri Băh bàn với vợ nên cất chòi trên đó, hai vợ chồng ngủ lại phát cả ngày cả đêm mới kịp mùa trỉa. Rẫy phát xong, trời vừa đổ mưa đúng lúc, hai vợ chồng tranh thủ trỉa bắp, trồng đậu v.v... Thứ gì cũng được thu hoạch.
Bước đầu cuộc sống còn khó khăn, hai vợ chồng chưa đề cập đến ba ông táo, chỉ kê tạm thời mấy viên đá bị méo không đều nhau, cho nên vợ sai chồng lên núi tìm và chọn những viên đá thật đẹp và tròn. Jà ri Băh nghe lời vợ lên núi tìm và rất may mắn, vừa lên là thấy ngay ba viên đá tròn và đẹp đều nhau cùng chung một chỗ. Jà ri Băh tìm dây thắt gióng, bỏ hai viên đá gánh về trước. Về nhà vợ thấy hai viên đá đẹp quá, mang vào cất trong chòi. Sáng hôm sau, Jà ri Băh lên vác một viên nữa mang về cho đủ bộ, vợ đều mang vào cất trong chòi, chưa kê ba viên chụm.
Ba đêm sau, Jà ri Băh chiêm bao thấy một ông già, mặc quần áo trắng đến và nói rằng:
- Tại sao tao cho vợ chồng mày cục vàng mà không đem đi bán ăn ?
Khi tỉnh dậy, hai vợ chồng rửa, lau chùi thấy óng ánh đúng là vàng thật, lấy làm mừng rỡ và nói :
- Đúng là trời thấy hai vợ chồng mình cực khổ nên cho.
Qua ngày sau, hai vợ chồng Jà ri Băh bàn với nhau rằng :
- Ơn trời cho hai vợ chồng mình, ngày mai lấy gùi mang đi bán cho vua lấy tiền sắm vật dụng trong gia đình mình.
Nói xong, chồng lấy gùi mang đi bán, đến cổng triều đình, lính canh chặn lại và hỏi :
- Mang cái gì đến đây ?
Jà ri Băh trả lời :
- Xin cho tôi được phép mang cục vàng này vào bán cho vua.
Lính canh cho phép Jà ri Băh vào.
Vua ra xem thấy đúng là hòn vàng thật, vua liền đổi cho Jà ri Băh một gùi bạc đem về. Đến nhà, hai vợ chồng mừng rỡ, mướn người phát rẫy thêm, sắm ruộng, trâu bò đủ đấy, làm ăn ngày càng phát đạt. Những người làm mướn cho hai vợ chồng Jà ri Băh đều cất nhà lập nghiệp tại đấy. Ngoài những người làm mướn, họ còn huy động thêm bà con khác đến ở lập thành một làng và tôn Jà ri Băh làm chủ cả một làng.