49. Parăm Mưdit, Parăm Mưlak
Xa xưa có hai ông bà là ông Kay Dai và bà Mô Ra Sik sinh một đứa con gái là nàng Sita, nết na thuỳ mị nhan sắc tuyệt trần. Ông Kay Dai sư tổ về chữ nghĩa và bùa chú, tiếng đồn khắp thiên hạ. Vì vậy có nhiều người đến xin thọ giáo.
Một hôm có hai người cùng lên đường tầm sư học đạo họ gặp nhau giữa đường, qua trò chuyện họ có cùng tư tưởng nên rất cảm thông nhau, kết nghĩa anh em như ruột thịt, họ cùng lấy tên là Parăm Mưdit, Parăm Mưlak. Parăm Mưdit lớn hơn nên Parăm Mưlak gọi bằng anh. Hai người cùng vào ra mắt thầy và xin thọ giáo. Ông Kay Dai thấy hai người khôi ngô nết na hiền lành, đồng ý nhận làm học trò.
Parăm Mưdit, Parăm Mưlak rất thông minh và cố gắng học hành, học đến đâu nhớ đến đó, kinh kệ bùa phép, thần chú lão thông được thầy rất mến truyền dạy đến nơi đến chốn. Chẳng bao lâu hai người đã thành tài.
Ông Kay Dai thấy hai người có tài ngang nhau, muốn gả con gái là nàng Sita (Bia Chata) nhưng không biết chọn ai. Ông thầy bảo hai người : - Nếu ai bắn một mũi tên trúng bảy cây mằn tăn ở sau vườn của thầy, thầy sẽ gả nàng Sita cho.
Parăm Mưdit bấm quẻ biết bảy cây mằn tăn mọc trên lưng con rồng đất, nên vẽ bùa vào ngón chân cái bấm xuống đất, kêu thổ địa lên hỏi:
- Đầu con rồng đất ở đâu ? Thần thổ địa thưa:
- Đầu con rồng đất ở hướng Đông Bắc, của khu vườn nơi có giếng nước là miệng con rồng đất. Parăm Mưdit lấy cây cọc vẽ bùa niệm thần chú rồi đóng ngay nơi miệng giếng tức là cổ con rồng đất. Con rồng đất đau quá duỗi thẳng mình nên bảy cây mằn tăn đứng thẳng hàng. Parăm Mưdit bắn một mũi tên trúng luôn bảy cây. Mời ông Kay Dai ra xem, đến lượt Parăm Mưlak bắn mũi tên thứ hai cũng xuyên qua lỗ mũi tên Parăm Mưdit đã bắn, thầy ra xem khen hai người đều có tài ngang nhau, ông thầy nghĩ suy chỉ có một nàng Sita, thầy bảo :
- Thôi hai con chịu khó lần nữa ta sẽ mang nàng Sita đi giấu nếu ai tìm được ta sẽ gả cho.
Nói xong ông Kay Dai dẫn nàng Sita đi giấu. Ông ta niệm chú cho tảng đá nứt ra, giấu nàng Sita vào trong rồi niệm thần chú tảng đá đóng lại, về nhà bảo Parăm Mưdit và Parăm Mưlak đi tìm.
Parăm Mưdit lên núi, Parăm Mưlak xuống biển, hơn một tháng mỏi gối chùn chân mà vẫn chưa tìm ra nàng Sita. Parăm Mưdit nghĩ ra cách bấm độn tìm được hướng ẩn nấp của nàng Sita chàng đến một tảng đá to niệm thần chú, tảng đá nứt ra tức thì chàng thấy nàng Sita ở trong, Parăm Mưdit đưa nàng Sita về, ông Kay Dai cho tổ chức hôn lễ.
Parăm Mưlak sau thời gian dài không tìm ra được nàng Sita, buồn nản trở về. Thấy Parăm Mưdit và nàng Sita đã thành vợ chồng, Parăm Mưlak quỳ ra mắt và gọi nàng Sita là chị dâu.
Rak Bil Thuôr ở xứ Dêwa, xứ Dêwa là một đảo ở giữa đại dương, nghe thiên hạ đồn về vẻ đẹp của nàng Sita cũng tìm đến. Trên đường gặp hai anh em Parăm Mưdit, Parăm Mưlak đưa nàng Sita về thăm quê hương, thấy vẻ đẹp của nàng Rak Bil Thuôr biết ngay là nàng Sita nên hoá thân làm con nai vàng què chân chạy trước mặt, để dụ hai anh em Parăm Mưdit vào rừng sâu.
Parăm Mưdit bảo Parăm Mưlak ở lại bảo vệ nàng Sita để mình rượt bắn con nai què kia, nai vàng kia khi ẩn khi hiện dụ được Parăm Mưdit vào rừng sâu rồi biến mất, liền trở lại chỗ cũ giả tiếng Parăm Mưdit kêu cầu cứu. Nàng Sita hối Parăm Mưlak hãy mau đi cứu anh, Parăm Mưlak vội vẽ vòng tròn trấn bùa để giữ nàng Sita rồi tức tốc chạy tới nơi có tiếng cầu cứu.
Chờ Parăm Mưlak đi rồi, Ra Bil Thuôr lại chỗ nàng Sita thấy hào quang sáng rực xung quanh nàng, Ra Bil Thuôr biết đó là bùa trấn của Parăm Mưlak bèn giá kẻ ăn mày đói rách thất lạc giữa rừng xin nàng Sita cho nước uống, nàng Sita thương hại bèn mang nước ra cho ông già. Thừa cơ hội Rak Bil Thuôr bắt nàng Sita bay về xứ Dêwa.
Parăm Mưlak gặp anh ở giữa rừng Parăm Mưdit hỏi :
- Sao em không bảo vệ nàng Sita mà vào đây làm gì.
Parăm Mưlak bảo :
- Anh đuổi con nai một hồi lâu, thì nghe tiếng anh kêu cứu nên chị thúc em vào đây cứu anh.
Parăm Mưdit biết mình đã lầm kế Rak Bil Thuôr nên cùng em trở về ngay chỗ cũ thì chẳng thấy nàng Sita đâu. Hai anh em chia nhau đi tìm, hẹn gặp nhau tại địa điểm đã định trước và phải đợi nhau tại nơi ấy.
Parăm Mưdit lên núi, Parăm Mưlak xuống biển. Parăm Mưdit lên núi chẳng may gặp đàn khỉ vây bắt đem về nạp cho khỉ chúa cái và bắt làm chồng, cho quân canh phòng rất cẩn mật không cách nào trốn thoát được, đành chấp nhận ở với khỉ chúa. Một thời gian khỉ chúa có thai, thừa lúc canh phòng của bầy khỉ chểnh mảng Parăm Mưdit mới trốn được về đến địa điểm đã hẹn.
Còn Parăm Mưlak sau khi đi tìm khắp hang cùng ngõ hẻm không thấy nàng Sita, trở lại địa điểm gặp anh. Ngày tháng trôi qua không dám rời điểm hẹn sợ anh lại không thấy rồi hai người sẽ thất lạc. Parăm Mưlak mỏi mòn chờ đợi đến nỗi áo quần rách tả tơi chỉ ăn lá cây sống qua ngày.
Anh em gặp nhau ôm nhau khóc kể là bị bầy khỉ bắt giữ không thể trốn thoát được nên mới để em khổ sở đến nông nỗi này. Hai người tiếp tục đi tìm nàng Sita.
Khỉ chúa sau khi Parăm Mưdit trốn thoát buồn rầu, chẳng bao lâu sinh được một chú khỉ con rất ngộ nghĩnh tên là Krale. Một hôm chú khỉ con đi chơi với đàn khỉ nhỏ, chúng chế nhạo đừng chơi với nó vì không có cha, khỉ con lấy làm hổ thẹn về nhà hỏi mẹ :
- Cha con đâu, bọn khỉ kia bảo con là thằng không cha. Khỉ chúa kể lại cuộc tình bất đắc dĩ, cha của con là loài người và mộ tả tỉ mỉ hình dáng cha cho nó nghe. Cha còn đã xuống núi rồi và không biết đi về đâu.
Nghe kể xong khỉ con Krale lạy từ biệt mẹ, xin phép mẹ cho con đi tìm gặp mới hả lòng. Khỉ con vượt rừng, vượt núi đi tìm cha ngày tháng trôi qua, quá mệt mỏi thì thấy cây cổ thụ bên mé sông trái chín triu cành liền leo lên hái ăn và nghỉ ngơi.
Hai anh em Parăm Mưdit, Parăm Mưlak qua bao tháng đi tìm mệt mỏi cũng đến dưới gốc cây nằm nghỉ ngơi.
Krale biết chắc trong hai người này, thế nào cũng có cha mình, nên khấn nguyện cùng trời đất nếu có thiêng thì ứng cho dòng máu của mình rơi xuống đúng vào cha mình. Khấn nguyện xong Krale cắn móng tay cho chảy máu, máu rơi xuống trúng vào mặt Parăm Mưdit, Krale biết đích thực đó là cha mình.
Parăm Mưdit ngước lên thấy con khỉ nhỏ kia to gan nên lấy cung bắn lá cây mà không trúng con khỉ, Parăm Mưdit mượn cung Parăm Mưlak bắn tiếp, khỉ thưa :
- Thưa cha, đừng bắn con nữa. Nếu cha có bắn cũng không trúng, hao tốn mũi tên.
Khỉ nhỏ xuống lạy cha và kể hết lời mẹ cho cha nghe, vì vậy mà con quyết đi tìm cha hơn hai tháng nay. Thấy hai người đến nghỉ ngơi nơi gốc cây, con biết là có cha, nhưng không biết người nào nên con đã nguyện cùng trời đất, cắn móng tay cho máu nhỏ trúng vào người nào, người đó đích thực là cha, giọt máu đó là máu của con chứ không phải nước gì cha tưởng đâu, Parăm Mưdit xúc động ôm khỉ con vào lòng và bảo cho nó biết Parăm Mưlak là chú, bảo Krale biết hiện nay cha và chú đang đi tìm nàng Sita.
Krale thưa cha :
- Nếu cha và chú đi tìm dì Sita, nếu biết chỗ cha và chú đi cũng không được vì hiện nay, dì Sita bị Rak Bil Thuôr bắt giữ ở chốn Dêwa, một hòn đảo ở giữa lòng đại dương nhược bằng cha và chú trở lại nơi mẹ con vui sống cảnh núi rừng là hơn.
Parăm Mưlak nạt :
- Đã nhận là con mà không biết sự khổ tâm của cha thì có bất hiếu không.
Parăm Mưdit can Parăm Mưlak đừng giận, và bảo Krale con đã biết dì Sita hiện ở xứ Dêwa, vậy con có cách nào giúp cha tìm cách cứu nàng Sita không.
Krale thưa :
- Được, con sẽ giúp cha, bây giờ cha hãy chặt cây kết bè rồi sẽ tính sau. Sau khi kết bè xong Krale bảo chú Parăm Mưlak ở lại đất liền, và nhờ chú cho mượn cung tên. Krale và cha chèo bè ra biển, Krale niệm thần chú bè lướt sóng như bay. Chẳng mấy chốc họ đã đến đảo Dêwa. Krale bảo cha ở lại giữ bè con đi tìm khi thấy con sẽ dẫn dì Sita đến, cha hãy đón dì xuống bè, đưa về đất liền ngay để con ở lại cản đường Rak Bil Thuôr. Căn dặn xong Krale hoá thành thằn lằn đến nơi cung điện nàng Sita, thấy nàng Sita mặc tang phục đàn thanh với chồng là Parăm Mưdit rồi muốn tự sát, Krale hoá thành người. Nàng Sita tưởng lính Rak Bil Thuôr bèn la lên, Krale bảo tôi không phải lính Rak Bil Thuôr mà là con của Parăm Mưdit đến cứu dì. Hiện cha đang chờ ngoài kia, dì hãy mau theo con để được giải cứu.
Khi nghe tiếng la lính Rak Bil Thuôr bao vây khắp nẻo, Krale một mình đánh với lính Ra Bil Thuôr quyết liệt mới đưa được Sita xuống bè. Krale quay lại đánh với lính Rak Bil Thuôr, Rak Bil Thuôr thấy lính mình không lại Krale, liền nai nịt xuất trận, Krale một mình tả xung hữu đột, thừa cơ dùng cung bắn Rak Bil Thuôr chết ngay tức thời. Lính Rak chạy tán loạn Krale đốt phá lâu đài tan tành rồi mới quay về đất liền, thấy cha, chú và dì Sita vẫn còn chờ đợi, Krale đưa về xứ rồi lạy cha, chú, dì ba lạy xin từ biệt lui về với mẹ sống cùng loài khỉ vui cảnh núi rừng.
Sự tích này còn tồn tại mãi với người Chăm. Để nhớ sự tích ấy, trong các lễ cúng ông thầy thường nhắc : Kay Dai, Môrasih, Parăm Mưdit, Parăm Mưlak, Bilktarale, để biết ơn và noi gương nghĩa khí của anh em Parăm Mưdit, Parăm Mưlak, Bia Kata, và Krale dù là loài thú nhưng đã làm tròn bổn phận đối với cha.