Không gian số hỗ trợ nghiên cứu Việt Nam cận đại và hiện đại.
Cuốn thư ở Chùa Thắng Nghiêm, bộ sưu tập Hán-Nôm
Về chúng tôi

"Số hóa Việt Nam" (Digitizing Việt Nam) đánh dấu một bước tiến số quan trọng trong ngành Việt Nam học với sự hợp tác giữa Đại học Columbia và Đại học Fulbright. Sáng kiến chung này bắt đầu từ biên bản ghi nhớ giữa hai trường vào năm 2022. Nền tảng Số hoá Việt Nam được khởi đầu vào năm 2018 với sự đóng góp hào phóng toàn bộ kho tư liệu của Hội Bảo tồn Chữ Nôm Việt Nam cho Đại học Columbia.

Columbia University WeatherHead East Asian InstituteFulbright University Vietnam - Vietnam Studies CenterHenry Luce Foundation
VNPF LogoVNPF Logo
Nghiên cứu Việt Nam qua lăng kính số

Khám phá lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam thông qua các công cụ tiên tiến và nguồn tư liệu được tinh chọn cho học giả, sinh viên và giáo viên.

Khám phá kho lưu trữ số - nơi dành riêng cho việc bảo tồn và nghiên cứu học thuật về di sản lịch sử, văn hóa & tư tưởng Việt Nam.

Tiếp cận lĩnh vực Nghiên cứu Việt Nam với các công cụ chuyên biệt của Digitizing Việt Nam.

Khám phá và giảng dạy ngành Việt Nam học một cách hiệu quả với tuyển tập giáo trình, kế hoạch bài giảng và tài nguyên đa phương tiện.

Bài viết

Những tin tức và khám phá mới nhất về hành trình số hóa, bảo tồn và nghiên cứu di sản Việt Nam.

Hội Thảo Về Nhân Văn Số - Nhân Văn Vì Cộng Đồng
8 tháng 3, 2026
Hội Thảo Về Nhân Văn Số - Nhân Văn Vì Cộng Đồng

Chuỗi hội thảo được tổ chức bởi Trung tâm Nhân văn Số vì Cộng Đồng Venice (VeDPH) thuộc Khoa Nhân văn, Đại học Ca' Foscari Venice. Các hội thảo sẽ được tổ chức tại Đại học Ca' Foscari Venice (Phòng Thí nghiệm VeDPH, Palazzo Malcanton Marcorà, tầng 2) và cho phép tham gia trực tiếp hoặc trực tuyến.

Thời gian: 5:00–6:30 chiều CET/CEST (11:00 p.m.–12:30 a.m. Giờ Việt Nam)

18 Tháng 3 – James Coleman (Đại học Pittsburgh)
Mạng Lưới và Sách về Các Đảo trong Địa Trung Hải Thời Hiện Đại Sơ Kỳ

15 Tháng 4 – Laura Leuzzi (Đại học Robert Gordon, Aberdeen)
Những Phương Tiện Mới và Việc Làm Mẹ: Những Góc Nhìn Mới

13 Tháng 5 – Fabrizio Nevola (Đại học Exeter)
Đem Thời Phục Hưng Đến với Công Chúng: Ứng Dụng, Tái Dựng Số và Các Vấn Đề trong Diễn Giải

17 Tháng 6 – Herman Cappelen (Đại học Hong Kong)
AI và Trường Đại Học: Tuyệt Chủng hay Chuyển Hóa?

👉Tham Gia Trực Tuyến: https://bit.ly/4d4OuiY
---

Tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam: Góc Nhìn Về Giới, Nghề nghiệp và Biến đổi Xã hội trong Việt Nam Đương đại
8 tháng 3, 2026
Tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam: Góc Nhìn Về Giới, Nghề nghiệp và Biến đổi Xã hội trong Việt Nam Đương đại

Trong vài thập niên gần đây, Việt Nam đã trải qua những biến đổi sâu sắc về kinh tế và xã hội. Kể từ khi tiến hành công cuộc Đổi Mới vào cuối những năm 1980, đất nước đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một hệ thống kinh tế thị trường năng động, ngày càng hội nhập vào các mạng lưới toàn cầu về thương mại, lao động và văn hóa. Sự chuyển đổi nhanh chóng này đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc xã hội Việt Nam, đặc biệt tại các trung tâm đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nơi những cơ hội mới trong giáo dục, việc làm và khởi nghiệp đã góp phần hình thành và mở rộng các tầng lớp trung lưu. Trong cuốn Vietnam’s New Middle Classes: Gender, Career, City (tạm dịch là “Tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam: Giới, Nghề nghiệp và Đô thị”) (NXB Đại học Quốc gia Singapore, 2014), nhà nhân học Catherine Earl khảo sát cách những nhóm xã hội mới nổi này thích nghi và định hình vị trí của mình trong bối cảnh thay đổi về công việc, bản sắc và khát vọng trong Việt Nam đương đại.

Thay vì xem tầng lớp trung lưu đơn thuần như một phạm trù kinh tế được xác định bởi thu nhập hay mức độ tiêu dùng, Earl tiếp cận nó như một trải nghiệm xã hội sống động, được định hình bởi các thực hành đời sống hằng ngày, các kỳ vọng xã hội và những hoài bão cá nhân. Nghiên cứu của bà tập trung đặc biệt vào những người trẻ có trình độ học vấn cao làm việc trong môi trường đô thị, trong đó nhiều người là phụ nữ, những người đang sống tại giao điểm giữa các chuẩn mực văn hóa truyền thống và những cơ hội mới do quá trình hiện đại hóa kinh tế mang lại. Thông qua các nghiên cứu điền dã dân tộc học, phỏng vấn và quan sát đời sống nghề nghiệp tại đô thị, Earl cho thấy cách các cá nhân kiến tạo bản sắc trung lưu thông qua con đường nghề nghiệp, lựa chọn lối sống và sự tham gia vào môi trường đô thị đang biến đổi nhanh chóng.

Một chủ đề trung tâm của cuốn sách là vai trò của giới trong việc định hình các cơ hội và giới hạn mà những thành viên của tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam phải đối mặt. Trong khi tăng trưởng kinh tế và sự mở rộng của khu vực dịch vụ đã tạo ra nhiều con đường nghề nghiệp mới cho phụ nữ có học vấn, các kỳ vọng giới gắn với trách nhiệm gia đình, danh dự xã hội và quan niệm về nữ tính vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến quỹ đạo nghề nghiệp của họ. Earl cho thấy phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu thường phải thương lượng những căng thẳng phức tạp giữa khát vọng cá nhân và sự chuẩn mực xã hội, giữa tính độc lập và nghĩa vụ đối với gia đình. Những lựa chọn nghề nghiệp, chiến lược trong môi trường làm việc và các mối quan hệ cá nhân của họ phản ánh những biến đổi rộng lớn hơn trong các chuẩn mực giới tại Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa.

Bản thân không gian đô thị cũng đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện này. Những không gian đô thị, từ văn phòng, quán cà phê, trường đại học đến các khu căn hộ và trung tâm mua sắm, trở thành nơi các bản sắc trung lưu mới được thể hiện và thương lượng. Đặc biệt, Thành phố Hồ Chí Minh trong cuốn sách không chỉ là bối cảnh mà còn là một môi trường xã hội năng động, định hình khát vọng, thói quen tiêu dùng và các mạng lưới cơ hội. Sự phát triển đô thị nhanh chóng, sự lan tỏa của văn hóa doanh nghiệp toàn cầu và sự mở rộng của các ngành dịch vụ đã tạo ra những hình thức di động xã hội mới, đồng thời cũng làm gia tăng cạnh tranh, bất định và áp lực thành công.

Thông qua việc phân tích trải nghiệm đời sống hằng ngày của những người trẻ làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, Vietnam’s New Middle Classes mang lại những góc nhìn quan trọng về các câu hỏi rộng hơn liên quan đến sự hình thành giai cấp, toàn cầu hóa và biến đổi xã hội ở Đông Nam Á đương đại. Công trình của Earl cho thấy rằng các cải cách kinh tế không chỉ tạo ra những phạm trù kinh tế mới mà còn tái định hình bản sắc cá nhân, quan hệ giới và những hình dung về tương lai. Qua đó, cuốn sách đóng góp vào các cuộc thảo luận học thuật đang diễn ra về ý nghĩa của việc trở thành một thành viên của tầng lớp trung lưu trong những xã hội đang trải qua quá trình chuyển đổi nhanh chóng.

Cuối cùng, nghiên cứu này mang đến một bức chân dung tinh tế về một thế hệ đang điều hướng giữa những hứa hẹn và những nghịch lý của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hậu Đổi Mới. Thông qua các chủ đề đan xen về giới, nghề nghiệp và đời sống đô thị, Catherine Earl cho thấy cách các tầng lớp trung lưu mới ở Việt Nam đang chủ động kiến tạo những cách thức mới để sống, làm việc và hình dung vị trí của mình trong một thế giới đang thay đổi.

Con đường tới Điện Biên Phủ: Nhìn lại Chiến tranh Đông Dương Lần Thứ nhất
8 tháng 3, 2026
Con đường tới Điện Biên Phủ: Nhìn lại Chiến tranh Đông Dương Lần Thứ nhất

Cuốn sách The Road to Điện Biên Phủ: A History of the First War for Vietnam (tạm dịch là “Con đường tới Điện Biên Phủ: Lịch sử cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất”) của Christopher Goscha là một trong những công trình nghiên cứu hiện đại toàn diện nhất về cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, cuộc xung đột diễn ra từ năm 1945 đến năm 1954 và cuối cùng đã chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam. Xuất bản năm 2022 bởi Nhà xuất bản Đại học Princeton, cuốn sách đặt trận Điện Biên Phủ nổi tiếng vào trong một tiến trình lịch sử rộng lớn hơn. Thay vì chỉ tập trung vào trận đánh quyết định dẫn đến thất bại của Pháp, Goscha tái dựng toàn bộ quá trình phát triển về chính trị, xã hội và quân sự đã giúp phong trào cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi. Thông qua việc khai thác sâu các tư liệu lưu trữ và một lối tường thuật lịch sử bao quát, cuốn sách lý giải cách một chính quyền cách mạng còn non trẻ sau Chiến tranh thế giới thứ hai dần dần chuyển mình thành một nhà nước đủ mạnh để tiến hành một cuộc chiến lâu dài chống lại một cường quốc thực dân.

Bối cảnh lịch sử của cuốn sách bắt đầu từ giai đoạn đầy biến động sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945. Sau sự sụp đổ của chính quyền chiếm đóng Nhật, các lực lượng cách mạng Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo đã tuyên bố độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, Pháp nhanh chóng tìm cách khôi phục quyền kiểm soát đối với các lãnh thổ thuộc địa cũ ở Đông Dương. Các cuộc đàm phán giữa lãnh đạo Việt Nam và đại diện chính quyền Pháp nhanh chóng đổ vỡ, và đến cuối năm 1946, xung đột đã leo thang thành một cuộc chiến tranh toàn diện. Goscha cho rằng cuộc đấu tranh này không thể được hiểu đơn thuần như một cuộc nổi dậy dân tộc chống chủ nghĩa thực dân. Thay vào đó, đây là một cuộc xung đột phức tạp, đồng thời bao gồm những cạnh tranh chính trị nội bộ giữa các lực lượng Việt Nam và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những biến động nhanh chóng của cục diện Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Khi đặt cuộc chiến trong bối cảnh quốc tế rộng lớn hơn, cuốn sách cho thấy Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vừa là một cuộc cách mạng chống thực dân, vừa mang tính chất nội chiến, đồng thời là một trong những chiến trường sớm của địa chính trị Chiến tranh Lạnh.

Một luận điểm trung tâm của Goscha là chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ không phải là điều tất yếu, cũng không chỉ là kết quả của chiến tranh du kích. Thay vào đó, tác giả nhấn mạnh vai trò quyết định của quá trình xây dựng nhà nước cách mạng. Trong suốt cuộc chiến, lãnh đạo của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng một bộ máy chính trị và hành chính ngày càng tinh vi, đủ khả năng huy động toàn xã hội cho chiến tranh. Chính quyền cách mạng đã tổ chức hệ thống thu thuế, tuyển quân, tuyên truyền, giáo dục và sản xuất nông nghiệp theo những phương thức cho phép duy trì cuộc kháng chiến lâu dài chống lại Pháp. Goscha cho thấy Đảng Cộng sản cùng các tổ chức liên minh của mình đã từng bước tạo dựng cơ sở hạ tầng của một nhà nước thời chiến hiện đại, biến các lực lượng kháng chiến phân tán ban đầu thành một hệ thống chính trị và quân sự tập trung.

Cuốn sách cũng nhấn mạnh vai trò của các biến động quốc tế trong việc định hình kết quả của cuộc chiến. Chiến thắng của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1949 đã làm thay đổi sâu sắc môi trường chiến lược của cuộc chiến, khi cung cấp cho lực lượng cách mạng Việt Nam nguồn huấn luyện, vũ khí và hậu cần qua biên giới phía Bắc. Đồng thời, Hoa Kỳ ngày càng nhìn nhận cuộc xung đột thông qua lăng kính của chính sách kiềm chế trong Chiến tranh Lạnh và bắt đầu cung cấp viện trợ tài chính cũng như quân sự cho nỗ lực chiến tranh của Pháp. Vì vậy, một cuộc xung đột vốn khởi nguồn từ vấn đề thuộc địa đã dần phát triển thành một cuộc đối đầu quốc tế rộng lớn hơn. Goscha phân tích cách những động lực toàn cầu này ảnh hưởng đến chiến lược quân sự, hoạt động ngoại giao và các tính toán chính trị của tất cả các bên tham chiến.

Một chủ đề quan trọng khác của cuốn sách là quy mô huy động xã hội cần thiết để duy trì cuộc chiến. Goscha cho thấy hàng triệu người dân Việt Nam đã tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc kháng chiến. Nông dân cung cấp lương thực, lao động vận chuyển vũ khí và vật tư qua núi rừng hiểm trở, còn lực lượng dân quân địa phương hỗ trợ cho quân đội chính quy. Những mạng lưới hậu cần này đóng vai trò thiết yếu đối với nỗ lực chiến tranh của Việt Nam, đặc biệt trong chiến dịch dẫn đến trận Điện Biên Phủ, khi một khối lượng lớn pháo binh và vật tư quân sự phải được vận chuyển qua những địa hình vô cùng khó khăn. Tác giả cho thấy chiến thắng cuối cùng không chỉ là kết quả của chiến thuật trên chiến trường, mà còn là sản phẩm của một hệ thống tổ chức trên phạm vi toàn quốc, huy động toàn xã hội cho chiến tranh.

Khi trận quyết chiến tại Điện Biên Phủ diễn ra vào năm 1954, nhà nước cách mạng Việt Nam đã trải qua gần một thập niên chuyển biến sâu sắc. Từ một phong trào chính trị còn mong manh hoạt động trong bối cảnh đầy bất định sau Chiến tranh thế giới thứ hai, lực lượng cách mạng đã trở thành một cấu trúc chính trị và quân sự có tổ chức chặt chẽ, đủ sức đối đầu với một quân đội thuộc địa hiện đại. Goscha cho rằng vì vậy trận Điện Biên Phủ nên được hiểu như kết quả cuối cùng của một quá trình lâu dài, chứ không phải là một bước ngoặt đột ngột. Thất bại của quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ đã đánh dấu sự chấm dứt sự hiện diện thuộc địa của Pháp ở Đông Dương và mở đường cho Hiệp định Genève năm 1954, văn kiện tạm thời chia cắt Việt Nam và đặt nền tảng cho cuộc xung đột sau này với sự can dự của Hoa Kỳ.

Trong lĩnh vực Việt Nam học, The Road to Điện Biên Phủ nhanh chóng trở thành một công trình tham khảo quan trọng. Việc kết hợp các nguồn tư liệu Việt Nam, Pháp và quốc tế đã giúp cuốn sách mang lại một nghiên cứu sâu sắc về nguồn gốc của nhà nước Việt Nam hiện đại cũng như động lực của chiến tranh cách mạng. Bằng cách kết hợp lịch sử chính trị, chiến lược quân sự và những biến đổi xã hội trong cùng một câu chuyện lịch sử, Goscha đưa ra một cách diễn giải mới về Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhấn mạnh vai trò trung tâm của quá trình hình thành nhà nước và sự huy động quần chúng. Vì vậy, cuốn sách không chỉ giúp làm sáng tỏ con đường dẫn đến trận đánh lịch sử năm 1954 mà còn góp phần lý giải cách Việt Nam nổi lên như một nhà nước cách mạng mạnh mẽ trong thế kỷ XX.