
Tục-ngữ Phong-dao của Nguyễn Văn Ngọc (tự Ôn Như) là một công trình sưu tầm và bảo tồn văn học dân gian quy mô lớn, xuất bản năm 1928, tập hợp khoảng 6.500 câu tục ngữ và hơn 850 bài ca dao được ghi chép từ truyền khẩu trong dân gian và từ các sách cổ, kèm phân loại và sắp xếp có hệ thống. Bộ sách gồm hai tập: Tập trên tuyển các câu dài từ ba chữ đến 23 chữ thuộc thể phương ngôn, tục ngữ; Tập dưới – phần 1 gồm các câu từ bốn câu trở lên thuộc thể phong dao (ca dao); Tập dưới – phần 2 là phụ lục các câu đố. Trong lời giới thiệu, tác giả nêu rõ phương châm ưu tiên thu thập được nhiều câu hơn là chọn lọc tinh ngay từ đầu, không phân biệt quá rạch ròi giữa thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao.

Câu đối của Nguyễn Văn Ngọc (tự Ôn Như) là một công trình sưu tầm và khảo cứu về thể loại văn học dân gian đặc sắc của Việt Nam – câu đối. Trong lời tựa, tác giả khẳng định câu đối không chỉ là hình thức văn vần ngắn gọn để rèn luyện trí tuệ và ngôn từ, mà còn thấm sâu trong đời sống văn hóa, từ cung đình đến làng quê, hiện diện trong dịp lễ, tết, chúc thọ, viếng tang, hay trang trí nhà cửa.

Tục ngữ An Nam dịch ra tiếng Tây (1924) là một tuyển tập tục ngữ Việt Nam được dịch sang tiếng Pháp, do Triệu Hoàng Hòa biên soạn và xuất bản trong bối cảnh giao lưu văn hóa Việt – Pháp thời kỳ thuộc địa. Tác phẩm tuyển chọn nhiều câu tục ngữ đặc sắc, giàu hình ảnh và hàm ý, phản ánh kinh nghiệm sống, triết lý dân gian, cũng như giá trị đạo đức của người Việt. Việc chuyển dịch sang tiếng Pháp không chỉ giúp người đọc Pháp ngữ tiếp cận kho tàng trí tuệ dân gian Việt Nam, mà còn góp phần giới thiệu, bảo tồn và nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Sách được số hóa và lưu trữ bởi Thư viện Quốc gia Pháp (BnF).

Văn-ca Trích cẩm: 200 Bài Hát Ả Đào (Tuyển tập văn chương gồm 200 bài hát Ả đào (Ca trù), Hà Nội: Tân Dân Thư Quán, 1928), do Phó bảng Hoàng Tăng Bí biên khảo, là một tuyển tập 200 bài thơ ca thuộc truyền thống hát ả đào (ca trù) – thể loại văn chương bác học gắn liền với trình diễn âm nhạc. Tác phẩm không chỉ lưu giữ lời ca phong phú về châm biếm, tình yêu và triết lý nhân sinh, mà còn kèm giải nghĩa chữ Hán và điển tích cổ. Sách được số hóa và lưu trữ bởi Thư viện Quốc gia Pháp (BnF).

Đông Tây Ngạn ngữ Cách ngôn là một tuyển tập song ngữ do H. Déletie và Nguyễn-Xan biên soạn, giới thiệu tục ngữ, châm ngôn và danh ngôn từ cả phương Đông và phương Tây bằng chữ quốc ngữ, kèm theo bản chữ Hán-Nôm và nguồn gốc tiếng Pháp ghi chú ở cuối trang. Tác phẩm là một cẩm nang đạo đức cho các thanh thiếu niên và gia đình ở Đông Dương thuộc địa, đồng thời là một tài liệu sư phạm phục vụ kèm theo chương trình giáo dục chính thức.

Tiếng lóng nước nhà của Trần Trung Viên là một trong những công trình tiên phong trong việc khảo cứu tiếng lóng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tác phẩm ghi chép và hệ thống hóa nhiều lớp tiếng lóng trong sinh hoạt đời thường, từ giới bình dân đến các nhóm “mạt lưu”. Trần Trung Viên cũng thẳng thắn cảnh báo độc giả về sự hiện diện của những tiếng tục, coi đó là một phần tất yếu để có thể “khảo được đủ giọng nói các hạng”.

Tục-ngữ Phong-dao của Nguyễn Văn Ngọc (tự Ôn Như) là một công trình sưu tầm và bảo tồn văn học dân gian quy mô lớn, xuất bản năm 1928, tập hợp khoảng 6.500 câu tục ngữ và hơn 850 bài ca dao được ghi chép từ truyền khẩu trong dân gian và từ các sách cổ, kèm phân loại và sắp xếp có hệ thống. Bộ sách gồm hai tập: Tập trên tuyển các câu dài từ ba chữ đến 23 chữ thuộc thể phương ngôn, tục ngữ; Tập dưới – phần 1 gồm các câu từ bốn câu trở lên thuộc thể phong dao (ca dao); Tập dưới – phần 2 là phụ lục các câu đố. Trong lời giới thiệu, tác giả nêu rõ phương châm ưu tiên thu thập được nhiều câu hơn là chọn lọc tinh ngay từ đầu, không phân biệt quá rạch ròi giữa thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao.

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi, do Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2000, in lần thứ 8, là công trình sưu tầm và nghiên cứu quy mô về truyện cổ tích Việt Nam. Tác phẩm gồm ba phần: phần thứ nhất khảo cứu bản chất, lai lịch và quá trình phát triển của truyện cổ tích Việt Nam; phần thứ hai giới thiệu 201 truyện cổ tích, kèm theo những khảo dị và tư liệu liên quan; phần thứ ba đưa ra những nhận định tổng quát về đặc điểm, nguồn gốc và sự giao lưu của kho tàng truyện cổ. Cuối sách có thư mục tham khảo phục vụ nghiên cứu.

Bộ sưu tập bao gồm 58 truyện cổ được gìn giữ trong kho tàng văn học dân gian phong phú của người Chăm. Trong đó, 32 truyện được sưu tầm từ tư liệu lưu giữ tại Trung tâm và do các cá nhân, gia đình ở những làng Chăm thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận cung cấp; bên cạnh đó là 26 truyện do Tuấn Dũng sưu tầm, tuyển chọn từ sách và tạp chí. Qua các sự tích về Po Nai, Po Ri Yak và những câu chuyện gắn với phong tục, đời sống tinh thần, người đọc có thể tìm hiểu cách cộng đồng Chăm kể về tình yêu, lao động, công bằng và lòng quả cảm.

Qua tập truyện cổ Cơ Ho, chúng ta có thể hình dung được phần nào tính chất phong phú và đa dạng của các cơ tầng văn hoá kế tiếp nhau, trao đổi, giao hoà với nhau, bồi đắp cho nhau trong lịch sử hình thành dân tộc lâu đời của các dân tộc ở Lâm Đồng và Tây Nguyên nói chung: từ lớp văn hoá nương rẫy vùng cao nguyên, đến lớp văn hoá vùng lúa nước, cho đến lớp văn hoá vùng ven biển. Bên cạnh các lớp văn hoá do tổ tiên các dân tộc ở đây sáng tạo nên, trong tiến trình lịch sử còn có sự trao đổi và hoà hợp các lớp văn hoá mới do người Chăm và người Việt mang đến. Kho tàng truyện cổ của người Cơ Ho và các di sản văn hoá của họ nói lên điều đó.

Dân tộc Mạ là một thành viên trong đại gia đình tổ quốc Việt Nam, họ từ lâu đã sinh sống trên dải đất Tây Nguyên hùng vĩ. Người Mạ có một vốn văn học nghệ thuật dân gian phong phú, mang bản sắc rõ rệt của dân tộc mình. Việc sưu tầm và xuất bản những truyện cổ tích Mạ có ý nghĩa giúp dân tộc Mạ nói tiếng nói của riêng mình, giúp các anh em dân tộc khác hiểu tính cách và tâm hồm Mạ. Cuốn sách này của tác giả Tạ Văn Thông có vì vậy ý nghĩa rất lớn trong việc giữ gìn truyền thống văn hoá dân gian của dân tộc Mạ nói riêng và của dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung.