| Modern Vietnamese | Note |
|---|---|
| Lan | So vào với thiếp “Hương” đình nào thua (LVĐ) |
| Thuyền trà | Bản LVĐ và bản LNP đều viết 船 茶. Bản Tăng Hữu Ứng viết là 禪 茶 thì đúng cả chữ và nghĩa. Sở dĩ có bản viết chữ 船 hoặc 禪 vì chữ ấy cũng chỉ là “ghi âm” cho chữ phạn Dhyana tức “thiền na” mà sau người ta rút gọn lại là “thiền” để chỉ Phật gia, Phật tự, tăng già. Ngày trước người ta vẫn thường gọi là cửa “thuyền”. Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim trong quyển “Truyện Thuý Kiều” in lần thứ nhất năm 1925 đã viết: Nâu sồng từ trở màu “thuyền” (c.1933) Cửa “thuyền” vừa, cữ cuối xuân (c.2016) Mùi “thuyền” đã bén muối dưa (c.3033) Màu “thuyền” ăn mặc đã ưa nâu sồng (c.3044) “Thuyền trà” hoặc “thiền trà” là chén trà của nhà chùa. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng viết là “thuyền trà” và cũng giảng là nước trè của “nhà chùa” pha ra. Lê Văn Hoè trong quển “Tầm nguyên từ điển” cũng viết là “thuyền” và đã giảng là yên lặng, vắng vẻ. Đạo Phật lấy sự thanh tịnh làm đầu nên mới kêu là thuyền môn (cửa thuyền) tức là nơi yên lặng, tĩnh mạc. Lê Văn Hoè còn ghi chú: “Ta thường đọc viết lầm là ‘thiền’”. |
| cạn chén | Thuyền trà cạn “nước” hồng mai (LVĐ) |
| đã lâu | Hoa rằng: Bà đến “bấy” lâu (LVĐ) |