Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 32 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Sự lòng ngỏ với băng nhân,
Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
Hỏi tên rằng Mã Giám sinh,
Hỏi quê rằng huyện Lâm- thanh TÁN gần”.
Quá niên trạc ngoại BỐN tuần,
RÂU MÀY nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao,
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
GHẾ trên ngồi tót SẮN sàng,
Buồng trong mối đã đưa nàng kíp ra.
Nỗi mình đăng tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước GIỌT hoa mấy hàng.
Ngại ngùng NẢN gió e sương,
NGỪNG hoa bóng thẹn trông gương mặt dày.
Mối càng VUỐT tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.
Quốc ngữChú thích
TÁNCác bản A, B, C, D đều CŨNG GẦN; riêng bản này khắc rõ ràng chữ TẢN/TÁN. Phải chăng ý nói quê thì ở huyện Lâm Thanh nhưng do li tán, tản cư nên nay cũng ở gần quanh vùng gia đình Viên ngoại?
BỐNHai bản C, D: TƯ TUẦN; Hai bản A, B: TỨ TUẦN; Bản này: BỐN TUẦN.
RÂU MÀYMÀY RÂU ở A, B, D, D; ở bản này đổi trật tự thành RÂU MÀY.<br>  - Các bản đều phiên NHẴN NHỤI; nhưng thanh phù ĐỘI cho phép nghĩ rằng trước vốn đọc là NHẴN TRỤI.
GHẾBản này khắc GHÉ TRÊN cũng như ở hai bản 1871, 1879. HTC có NGỒI GHÉ với nghĩa là “ngồi đỡ, ngồi dựa chỗ nào”. Bản 1902 đổi bộ THỦ thành bộ MỘC, nên phải đọc GHẾ.<br>  - Ba bản cổ 1871, 1872, 1879 đều SẮN SÀNG, bản 1902 đổi hành SỖ SÀNG.
đưaỞ A, B, C, D đều GIỤC NÀNG KÍP RA; ở bản này: ĐƯA NÀNG KÍP RA.
đăngKhắc chữ ĐĂNG nên đọc ĐANG? (ĐANG CAI nay cũng đọc ĐĂNG CAI!) hay nên đọc ĐẮNG? (coi như bộ THẢO bị lược bỏ).
GIỌTCác bản B, C, D đều khắc rõ chữ LỆ; bản này khắc không rõ, nhưng có lẽ là GIỌT(?). Bản TVKI cũng cho in là GIỌT.
NẢNBản 1871 và bản 1879 khắc chữ ĐẠN với nghĩa là “sợ”; “sợ gió” sóng đôi với “e sương” ở sau. Vậy phải đọc SỢ theo nghĩa, hoặc RỢN, DỢN, DỚN theo âm. Ở bản 1902 cũng DỢN, DỚN, tuy thanh phù khác. Ơ bản này là NẢN (nghĩa cổ cũng là “SỢ” (VBL)).
NGỪNGNGƯNG, NGỪNG: Bản A ghi XEM (có lẽ theo bản TVKI) nhưng ở bản này cũng như ở 2 bản C, D đều khắc NGƯNG, NGỪNG; Bản C, bản D khắc đủ nét, bản này thì khắc theo lối giản hóa. Ở bản B thì NHÌN.
VUỐT tócở A, B, C, D đều VÉN TÓC vì thanh phù là chữ VIỆN. Ở bản DMT 1872 này dùng thanh phù VIỆT, vậy có lẽ phải đọc VÍT, VỚT hoặc VUỐT. Chúng tôi tạm đọc VUỐT. Cần trao đổi thêm.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.