Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 46 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
"Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân,
"Tuyết sương che chở cho thân cát đằng."
Cạn lời khách mới thưa rằng:
"Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao.
"Mai sau dầu dến thế nào,
"Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỉ thần."
Đùng dùng gió giục mây tần ,
một xe trong cõi hồng trần như bay.
Trông vời GẠT LỆ phân tay,
Góc trời thăm thẳm ngày ngày đăm đăm.
Nàng thì cõi khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen DẦM ngàn mây.
Vi lau sát sát hơi may,
Một trời THU để riêng SAY một người.
Dặm khuya ngắt tạnh mù KHƠI ,
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
Rừng thu từng biếc ÚA hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Những là lạ nước lạ non,
Lâm- tri vừa một tháng tròn ĐẾN nơi.
Quốc ngữChú thích
tầnở A, B VẦN; Ở C, D vàn bản này: TẦN. MÂY TẦN (= MÂY TẦN LĨNH) chỉ cảnh “Xa quê, nhớ nhà”. Đổi TẦN thành VẦN thì kết cấu cú pháp của câu thay đổi hẳn.
GẠT LỆHai chữ mà bản A in là GẠT LỆ trong từ điển cổ đọc là BẠT LỤY, và giải thích là “chùi lau nước mắt” (HTC). Cả bản này, cả ba bản Nôm B, C, D đều khắc 2 chữ ấy một cách hoàn toàn thống nhất. Quan hệ V/B/G có ở các địa phương; So sánh với VẤP PHẢI HÒN ĐÁ (Bắc)/ BẤP PHẢI HÒN ĐÁ (Huế)/ GẤP PHẢI HÒN ĐÁ (Nghệ). Nay LỤY đã cổ, còn BẠT thì đổi thành GẠT.
DẦMDẦM vì thanh phù DÂM; VI LAU ỏ câu sau (913) xin xem chú thích 100 (câu 264).
THUTHU 秩 khắc sai 秩.
SAYSAY/SAI ở C và bản này; AI ở A, B và D.
KHƠIChữ KHƠI khắc cũng không chuẩn: thanh phù KHAI khắc thành như chữ DỤNG.
ĐẾNỞ ba bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879 đều ĐẾN NƠI; Ở bản B, bản A đều đổi thành TỚI NƠI, như ở TVKI.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.