Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 65 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,
Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào.
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn nét nào chẳng ưa.
Hải- đường mởn mởn cành TƠ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!
Lạ gì thanh khí nhẽ hằng,
Một dây một buộc ai giằng cho ra?
Sớm đào tối mận lân la,
Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.
Dịp SAO may mắn lạ dường,
Lại vừa gặp khoảng NGHIÊM đường lại quê.
Sinh càng một tỉnh mười mê,
Ngày xuân lắm lúc QUÊN về với xuân.
Khi gió gác khi trăng sân,
Bầu tiên DỐC rượu câu thần nối thơ.
Khi hương sớm khi MÂY trưa,
Bàn vây LỪA nước đường tơ hoạ đàn.
Quốc ngữChú thích
Ở câu 1282: NÉT hay NẾT? Ở câu này: TƠ khắc không bình thường.
SAOCác bản A, B, C, D đều nhất trí DỊP ĐÂU. Riêng bản này khắc DỊP SAO.
NGHIÊMCũng vậy, các bản A, B, C, D đều nhất trí XUÂN ĐƯỜNG. Chỉ riêng ở bản này là NGHIÊM ĐƯỜNG.
QUÊNChữ này có thể đọc QUEN hoặc QUÊN. Đối chiếu thấy bản B thêm chữ VONG bên cạnh, vậy là QUÊN. Nhưng ở A, C, D: ĐI VỀ. Ở câu sau (1295) GÁC khắc không chuẩn.
DỐCChữ này có ba dị bản: CHUỐC RƯỢU ở A, B, RÓT RƯỢU ở C, D và DỐC RƯỢU ở bản này. Chữ THƠ khắc không chuẩn.
MÂYCâu này lại có 2 dị bản: KHI TRÀ TRƯA ở A và B; KHI MÂY TRƯA ở C, D và bản này. Chú ý chữ TRƯA của bản này không dùng thanh phù như ở B, C, D; lại bị khắc nhầm.
LỪAXin so sánh BÀN VÂY ĐIỂM NƯỚC (ở A, B, C) BÀN TRÀ ĐIỂM NƯỚC (ở D) với BÀN VÂY LỪA NƯỚC của bản này.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.