21. Trạng xử kiện
Ngày xưa, có anh học trò đi thi đỗ trạng nguyên nhưng không ra làm quan, chỉ chu du khắp xứ để giúp dân làng.
Một hôm, ông trạng nghe tiếng một bà đang chửi bới ầm ĩ. Ông dừng lại hỏi. Bà kia liền kể lể rằng :
- Nhà tôi nghèo túng nuôi được mỗi hai con gà kẻ trộm đang tâm đêm hôm kia đến bắt mất một con, đêm qua lại đến lấy con nữa, uất quá tôi phải chửi cho nó biết.
Nghe thế, ông trạng bèn gõ mõ gọi dân làng tới và bảo :
- Bà này chỉ mất có hai con gà mà làm nhức đầu hàng xóm, vậy tôi cho mỗi người tát một cái để trả nợ.
Trong làng ai cũng thương kẻ mất của mà còn bị đánh đòn nên chỉ vả nhẹ lấy lệ. Riêng tên ăn trộm bị chửi đào cả mồ mả tổ tiên từ hôm qua tới giờ, nên nghiến răng giáng thẳng cánh đánh cho bò tức.
Ông trạng liền giữ anh ta lại, bắt phải bồi thường hai con gà cho bà kia. Thằng trộm cố cãi, ông trạng nói :
- Mọi người khác vì tuân lệnh tôi mà vả nhẹ, riêng anh vì bị chửi mắng mà không làm gì được, nay nhân đà mới đánh mạnh cho hả giận.
Tên ăn trộm phải cúi đầu nhận tội trước lý lẽ của trạng.
Ông trạng lại đi tiếp, đến một làng kia thấy có bà cụ vừa khóc vừa chửi. Ông hỏi, bà cụ kể rằng, dành dụm được ít tiền mua buồng chuối xanh để trên nóc nhà cho chín, không biết kẻ nào đã lấy mất. Trạng an ủi bà cụ rồi ra đầu làng. Đến chiếc cầu ông vờ dừng lại la làng. Mọi người chạy đến, ông ta nói :
- Tôi vừa đánh rơi chiếc nhẫn vàng xuống suối, ai mò được xin chuộc lại bằng tiền.
Mọi người thi nhau xuống mò nhẫn. Một lát sau ông gọi mọi người lên bờ, xem tay từng người. Đến tay của một người nọ. Ông ta chỉ vào mặt và mắng :
- Tại sao anh đành lòng nỡ dạ độc ác vậy, người ta đã nghèo đói, mong buồng chuối chín đem bán đổi lấy gạo mà anh còn đến lấy trộm!
Người kia kêu oan. Trạng bảo :
- Đừng cãi nữa, anh không lấy thì cái gì đây?
Nói rồi ông chỉ vào những vết, nhựa chuối dính nơi tay, nay gặp nước bùn đã đen lại. Mọi người trầm trồ thán phục mưu trí của ông trạng. Tên trộm đành phải bồi thường lại buồng chuối.
Ông trạng rời xóm nọ ra đi, tới gần một khu chợ thì gặp một bà già đang ngồi khóc. Ông dừng lại hỏi chuyện bà già nói :
- Khổ quá, tôi già cả không làm gì được, chỉ buôn bán ít dầu để nuôi thân, nhưng đi đến đây bị vấp vào hòn đá làm hai bình dầu đổ hết. Tôi còn biết lấy gì làm kế sinh nhai.
Ông trạng gọi dân làng tới và truyền :
- Không hiểu hòn đá này thù hằn gì bà cụ già mà dám ngáng chân để đổ hết cả dầu bà con hãy dựng rạp ở đây để tôi tra khảo xem sao.
Dân làng lấy làm lạ, nhưng tò mò muốn biết trạng khảo đá, nên y lời dựng rạp. Ông cho bịt kín lại hết chỉ để chừa một cửa ra vào, ở đó đặt một cái thúng rồi truyền, hễ ai muốn vào xem phải bỏ vào đó hai đồng tiền. Mọi người háo hức kéo vào xem, đến khi đầy một thúng tiền, ông ta đứng dậy nói :
- Thưa bà con, chẳng ai tra khảo đá bao giờ cả, nhưng tôi bày ra như vậy bởi thấy tình cảnh bà già này khổ sở quá, nay bà con đã có lòng giúp thì xin cảm ơn bà con.
Nói xong, đưa cả thúng tiền cho bà cụ nghèo khổ. Mọi người cùng vui vẻ kéo nhau ra về.
Một hôm ông trạng lại gặp một người đàn bà đang ngồi khóc cạnh hai thúng gạo bị đổ tung toé, Trạng hỏi, bà ta kể là bị gió lốc cuốn đổ. Ông trạng bèn sai người đi gọi chủ thuyền ở biển Cà Ná và chủ thuyền ở biển La Trữ tới.
Khi hai ông chủ thuyền đến, trạng hỏi chủ thuyền Cà Ná :
- Ở Cà Ná người thường xin được gió hướng nào thì cho thuyền ra khơi ?
Chủ thuyền trả lời :
- Dạ, chúng tôi cứ vái được gió hướng nam là cho thuyền ra khơi !
Ông trạng lại hỏi chủ thuyền La Trữ :
- Ở dưới La Trữ thường xin được ngọn gió nào thì cho thuyền chạy ?
Chủ thuyền La Trữ thật tình thưa :
- Dạ, được gió nồm thì cho thuyền chạy.
Nghe xong, trạng bắt hai chủ thuyền đền cho chị kia hai thúng gạo. Hai chủ thuyền không chịu, chối :
- Chúng tôi có làm gì cho chị ấy mà phải đền hai thúng gạo.
Trạng nói :
- Cà Ná nói vái gió nam, La Trữ nói vái gió nồm. Gió nam gió nồm lộn lạo, đổ hai thúng gạo, hai chủ thuyền phải đền.
Hai chủ thuyền chẳng còn lý nào cãi được, và lại hai thúng gạo chẳng đáng bao nhiêu, cho nên họ chịu bồi thường cho chị nhà nghèo nọ.
Tiếng đồn lành về trạng vang khắp nước. Nhà vua cho gọi về triều phong làm quan to.
Xem thiên số trạng biết mình chỉ làm quan được hơn chục năm thôi. Nên đến năm thứ mười lăm ông cởi bỏ quần áo, mũ mãng để lại triều đình rồi trốn đi. Ông giả bộ đi ăn xin, qua hết làng này, xóm kia. Đến một làng kia, vào một nhà phú ông xin ăn, phú ông mắng :
- Bộ dạng khoẻ mạnh, sức vóc trai trẻ, sao không làm thuê, làm mướn kiếm ăn mà lại đi ăn xin?
Ông trả lời :
- Không ai mướn chứ tôi đâu có lười.
Phú ông bảo :
- Nhà tao có một đôi trâu mộng, mày hãy ở đây chăn dắt, tao nuôi ăn và may mặc cho, bằng lòng chứ ?
Từ đó ông ở lại chăn trâu cho nhà phú ông. Ở làng có một trường học. Khoảng trăm học trò. Ngày ngày ông vẫn đi chăn trâu gần trường ấy. Một hôm ông thầy bận đi ăn giỗ, bảo trò ở lại chép bài. Trạng để ý thấy mọi trò đều cặm cụi chép bài, riêng có một anh cứ chấm mực ướt ngòi rồi lại để khô chẳng viết được một chữ nào. Trạng đến gần hỏi :
- Mọi người đều viết, sao anh lại ngồi không?
Anh học trò nọ trừng mắt :
- Chăn trâu không lo chăn trâu, chỗ mồm vào việc người khác, lôi thôi tao đánh một bạt tai, lòi con mắt cho coi.
Ông trạng ôn tồn :
- Tôi lo anh không viết, thầy về coi vở lại bị đòn.
Anh trò sừng sộ :
- Đánh tao chứ đánh cha bay à, mày giỏi mày viết tao coi.
Trạng nói :
- Ồ, nếu anh cho viết thì tôi viết.
Nói rồi, ông cầm bút chấm mực viết một hơi xong bài văn.
Đưa bút mực cho anh học trò, ông dặn :
- Nếu thầy hỏi ai viết thì cứ bảo anh viết nghe ! Kẻo thầy biết thầy đánh tôi.
Ông thầy đi ăn giỗ về, học trò mang vở đến chấm. Chấm đến vở anh học trò nọ, thầy ngạc nhiên quá, gọi trò lên hỏi :
- Ai viết bài này ?
Anh học trò trả lời :
- Dạ, thưa thầy con viết ạ. Ông thầy lắc đầu không tin, nói :
- Người viết bài này là thầy của tao. Bây giờ tao đưa bút giấy cho mày, nếu mày viết được vậy, tao xin nhường lại trường cho mày.
Đến lúc này, anh học trò mới nói rõ là có anh chăn trâu viết hộ.
Thầy lại hỏi :
- Mày biết ông ta ở đâu không ? Gọi đến đây cho ta.
Anh học trò đi tìm người chăn trâu nọ, và mời đến trường. Ông thầy cung kính chào, rồi hỏi :
- Thưa ông, có phải ông đã viết bài cho học trò tôi không ?
- Dạ, thưa, chính tôi viết. Xin thầy xá tội mà tha cho. Tôi xin đội ơn.
Ông thầy nói :
- Tôi không dám, thưa ông, sức học của ông như vậy sao không kiếm trường mà dậy ạ ?
Ông trạng nói rằng mình mới đến không biết tìm đâu ra nơi dạy, đành xin ở chăn trâu kiếm miếng cơm cho qua ngày. Nghe nói vậy, ông giáo kia xin nhường trường này cho anh chăn trâu, để mình đi kiếm trường khác, gọi là có tí chút tạ ơn tỏ lòng thành kính.
Từ đó ông trạng chuyển sang nghề dạy học. Mỗi tháng mỗi trò nộp cho thầy mười đồng. Một tháng nọ, cả lớp đã nộp gần hết chỉ còn một trò chưa nộp. Thầy hỏi, anh ta bảo :
- Xin thầy cho con nộp sau, con còn phải chờ cha con ngủ dậy mới xin tiền được.
Thầy hỏi :
- Bố anh ngủ gì nhiều thế, ngủ bao lâu rồi?
Trò rằng :
- Dạ, mới có hai mươi lăm ngày nay.
Thấy lạ, thầy hỏi tiếp :
- Thế thường bố anh ngủ bao lâu thì thức?
Trò đáp :
- Dạ, ít thì ba mươi lăm ngày, nhiều thì năm mươi ngày.
Thầy hỏi :
- Thế gọi không nổi sao ?
Trò đáp :
- Dạ, không bao giờ gọi được ạ, dậy lúc nào thì dậy thôi.
Ngâm nghi một lát thầy bảo :
- Anh hãy lấy ba nén nhang thắp chỗ đầu cha anh nằm rồi anh ngồi xếp bằng ngay ngắn mà gọi : "Cha ơi, hỗi cha, hồn yêu, hỗn ma, hỗn người ta làm việc âm phủ" thì cha anh sẽ dậy.
Anh học trò làm theo lời, quả thật người cha ngồi dậy, hỏi :
- Ai bảo mày đánh thức tao dậy ?
Người con trả lời :
- Dạ, thầy học của con.
Người cha lại hỏi :
- Sao thầy mày biết tao ngủ mà bảo mày gọi?
Con trả lời :
- Vì người ta nộp tiền hết rồi, chỉ còn mỗi con. Thầy hỏi, con nói cha còn ngủ chưa lấy được tiền, nên thầy bày cách gọi.
Người cha tới trường, sau khi chào hỏi nhau, thầy hỏi ông :
- Ông là người dương gian mà làm việc âm phủ vậy ông làm cái gì vậy ?
Ông kia nói :
- Thầy có biết tôi mới nói, đúng tôi là kẻ dương gian làm việc dưới âm phủ, tôi làm trùm thầy ạ. Tôi dẫn phu, lính xuống âm phủ tìm lại một ông trạng, nhưng tìm suốt một năm nay không thấy, ông ta trốn ngõ nào không biết. Quần áo vẫn còn tại ngai mà không thấy người.
Thầy hỏi :
- Thế bây giờ làm thế nào ?
Ông kia nói :
- Bây giờ đành xoá sổ hạn mười lăm năm mà lập sổ mới một trăm năm cho người làm trạng.
Ông thầy lúc đó mới nói thật mình chính là quan trạng, rồi kể vì sao mình bỏ triều ra đi.
Nghe nói, ông kia mừng vô cùng. Hôm sau liền phi báo về triều cho người đến đón trạng. Ông trạng trả lại trường cho người thầy cũ rồi trở về triều đình làm việc cho nhà vua.