22. Trạng tí hon
Xưa có cậu bé, con một người nông dân, tuy tuổi vừa mới lên mười nhưng đã thông minh xuất chúng.
Tục truyền rằng, một hôm cậu theo cha đi ra đồng, trong lúc cha cậu đang cày thì có hai sứ giả cưỡi ngựa đi qua. Hai sứ giả ghì cương ngựa lại hỏi người nông dân :
- Này người kia, hãy cho ta biết, từ sáng đến giờ ngươi đã cày được bao nhiêu xèo ? .
Người nông dân trả lời :
- Hết xèo này cày xèo khác, không biết bao nhiêu.
Hai vị sứ giả thấy người nông dân trả lời như vậy thì cho là vô phép, xấc láo, bèn đánh vài roi rồi bỏ đi. Cậu bé từ đằng xa thấy vậy liền chạy đến hỏi cha xem nguyên cớ, rồi chạy đuổi theo hai người nọ gọi to :
- Này hai ông khách lạ kia ơi, hãy dừng ngựa lại cho tôi hỏi điều này đã !
Hai vị sứ giả nghe tiếng cậu bé gọi bèn ghì cương ngựa lại để xem có việc gì.
Cậu bé vừa đến gần thì hai vị sứ giả liền hách dịch hỏi :
- Mi muốn hỏi chúng ta điều gì ?
Cậu ta đáp :
- Tôi muốn hỏi tại sao hai ông lại đánh cha tôi ?
Hai sứ giả nói :
- Ta hỏi cha cậu từ sáng tới giờ cày được bao nhiêu xẽo, cha cậu không những không biết mà còn trả lời xấc láo rằng hết xẽo này cày đến xẽo khác, nên chúng ta đánh.
Cậu bé hỏi tiếp :
- Bây giờ tôi xin hỏi lại hai ông, và nếu hai ông không trả lời được thì tôi xin đánh hai ông để trả lễ cha tôi, được chớ ?
Hai vị sứ giả khinh thường cậu bé nên gật đầu. Cậu bé hỏi :
- Thế xin hai ông cho biết từ sáng tới giờ hai ông đã cho ngựa kia mấy lần đi bước một, mấy lần kiệu, mấy lần tế ?
Hai vị sứ giả đứng đực ra không trả lời được. Và, cũng không ngờ cậu bé lại hỏi ngay điều tương tự như mình vừa hỏi cha nó. Cậu bé cầm roi ngang nhiên đánh hai vị, nọ mỗi người vài roi rồi bỏ đi. Hai vị sứ giả tuy lấy làm thẹn, nhưng cũng có phần mừng, vì họ đang theo lệnh vua đi tìm nhân tài cứu nước. Hai vị vội về triều tâu lại nhà vua về sự khôn ngoan của cậu bé nọ.
Vua nghe tâu liền cho đòi quan cận vệ đến hầu, và truyền lệnh cho ông ta thân chinh đến tận nhà cậu bé xem hư thực.
Theo lệnh vua, quan cận vệ lệnh cho bố mẹ cậu bé nội trong ba ngày phải dâng nạp cho nhà vua một sợi dây bện bằng tro.
Cha cậu bé sau khi nghe quan cận vệ truyền lại lệnh của nhà vua như vậy thì vô cùng lo lắng. Hai vợ chồng bắt tay ngay vào việc. Nhưng tuy đã tìm đủ mọi cách mà vẫn không đánh được sợi dây tro như vậy. Hai vợ chồng vì lo sợ mà buồn lòng, khóc thảm thiết. Cậu bé thấy vậy liền hỏi:
- Thưa cha mẹ, chẳng hay nhà ta có chuyện gì mà cha mẹ lại khóc buồn như vậy ?
Mẹ cậu bé với vẻ mặt buồn bã nhìn con rồi nói :
- Tai hoạ sắp gieo đến cho cả nhà ta rồi con ạ. Chỉ còn một ngày nữa, nếu nhà ta không có được một sợi dây tro nạp cho nhà vua thì cả nhà chúng ta sẽ bị tru di.
Krahpakar, tên của cậu bé, nghe mẹ hỏi vậy thì trả lời mẹ với vẻ rất bình thản, tự tin :
- Ô, tưởng chuyện gì, chớ cái việc cọn con ấy xin cha mẹ đừng bận tâm, cha mẹ hãy yên lòng để con lo liệu.
Hai vợ chồng người nông dân nghe con nói vậy thì nửa tin nửa ngờ, như không còn cách nào hơn, đành chịu ngồi im.
Chiều hôm ấy cậu bé bảo người cha bện cho mình một sợi dây bằng rơm dài, rồi cậu đem khoanh tròn sợi dây rơm đó vào một cái khuôn (cái lu) bằng đất, đoạn lấy lửa đốt cháy. Lúc bấy giờ hai vợ chồng người nông phu mới vờ lẽ, và lấy làm vui mừng mà yên tâm thực sự.
Đúng ngày hẹn, mẹ cậu bé đội khuôn dây tro đến nạp cho vua. Nhà vua nhận được sợi dây tro thì mừng thầm, và cảm phục trí thông minh của cậu bé Krahpakar.
Nhưng rồi nhà vua lại cho thử tài cậu bé lần nữa, để xem cậu thông minh đến mức nào. Lần này nhà vua bảo quan cận vệ đến nhà người nông dân truyền lệnh trong ba ngày phải tìm cho bằng được một người đàn bà có râu đen dâng nạp nhà vua.
Hai vợ chồng nhận được lệnh truyền thì lại lấy làm lo lắng, vì việc phải làm lần này còn khó hơn gấp mấy lần trước. Hai vợ chồng cùng khóc than cho số phận. Tối hôm ấy cậu bé nghe cha mẹ bỗng dưng khóc lóc, cậu lựa lời hỏi :
- Thưa cha mẹ, xin cha mẹ cho con được biết vì cớ gì mà cha mẹ lại than khóc làm vậy ?
Cha mẹ ôm cậu vào lòng mà rằng :
- Con ạ, không hiểu tại làm sao nhà vua lại bắt bí nhà ta, lần này không khéo cả họ nhà ta sẽ bị tru di tam tộc bởi cưỡng lệnh vua ban mất. Nhà vua lại vừa truyền lệnh cho nhà ta trong ba ngày phải tìm được một người đàn bà có râu đen dâng nạp cho nhà vua. Lệnh vua như lệnh trời. Chỉ còn hai hôm nữa thôi ta phải tìm được vật tiến vua, biết tìm đâu ra, hở con? Sống bằng này tuổi đầu cha mẹ chưa bao giờ nghe nói tới điều đó, chớ đừng nói chi đến chuyện được nhìn thấy.
Ngẫm nghĩ một lát rồi cậu bé nói với cha mẹ:
- Con thấy rồi, xin cha mẹ chớ lo. Nội trong ngày mai con sẽ tìm được người đàn bà có râu.
Cậu bé vừa cười nói, vừa chỉ tay về phía đàn dê cái trong chuồng. Hai vợ chồng người nông dân thoáng nghĩ ra, bèn thầm khen con mình là người sáng trí. Hai vợ chồng lại càng yêu mến con hơn.
Hôm sau cha mẹ cậu bé lấy dây trói một con dê cái trong chuồng nhà mình dắt về triều dâng nạp nhà vua.
Nhà vua nhận lễ mà lòng cảm phục lắm. Sau đó nhà vua lại gọi vị quan cận vệ đến truyền lệnh:
- Khanh hãy đến nhà cậu bé nọ truyền cho gia đình ấy nội trong vòng hai ngày nữa phải đem dâng trước mặt ta một cái bánh biết nói.
Nhận được lệnh truyền, hôm sau mẹ cậu bé hì hục làm bánh. Bà làm hết loại bánh này đến loại bánh khác, nhưng hỏi mãi mà chẳng có loại bánh nào biết nói. Lúc bấy giờ bà chỉ còn biết ngồi mà than khóc.
Cậu bé Krahpakar tình cờ bước vào bếp, thấy mẹ đang ngồi khóc trước một đóng bánh to tướng, thì lấy làm ngạc nhiên, bèn hỏi mẹ :
- Hôm nay nhà mình định cúng lớn lắm phải không mẹ ?
Mẹ cậu bé ngậm ngùi nhìn con, rồi nói :
- Có cúng quẩy gì đâu con, nhà vua lại vừa truyền lệnh cho nhà ta là nội trong hai ngày phải đem dâng nạp cho nhà vua một cái bánh biết nói. Mẹ ngồi từ sáng đến giờ làm không biết bao nhiêu là loại bánh rồi, nhưng vẫn không có lấy một chiếc biết nói. Biết làm sao bây giờ, chỉ còn một ngày mai nữa thôi là hết hạn.
Krahpakar lại lưa lời an ủi mẹ đừng quá bạn tâm. Cậu hứa sẽ tìm được chiếc bánh biết nói đó nội trong ngày mai để đem dâng nạp vua như lệnh truyền.
Làm theo lời con, sáng hôm sau mẹ cậu mang một cái mâm đi trước. Krakpakar theo sau. Khi đã đến trước cổng thành, Krahpakar ngồi vào trong mâm, bảo mẹ đội lên dâng vua. Vừa nhìn thấy mâm bánh biết nói, vua liền phán hỏi cậu bé rằng:
- Bánh biết nói, người tên gì ?
Krahpakar thưa :
- Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần chính là Bánh biết nói, tục gọi Harthandôm.
Rồi từ đó Krahpakar được nhà vua và triều đình tôn lên làm quan trạng.
Chú thích
(Trang 169) Truyện này giống truyện Bánh biết nói (trang 183), chỉ khác là đoạn cuối - thi trâu - không có. Và tên trạng là Krahpakar mà truyện Bánh biết nói không có tên trạng cụ thể. Có thể coi hai truyện này là dị bản của nhau (B.T.).
(Trang 169) Xèo : xá cày.