Truyện Kiều, bản 1866
Trang bị thiếu
Trang 105 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Sao bằng lộc trọng quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?"
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công , Từ mới trở ra thế hàng .
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc dụng, quyết đường giải binh .
Tin lời thành hạ yêu minh ,
Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng ,
Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư.
Hồ công quyết kế thừa cơ,
Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ lý chính.
Kéo cờ chiêu phủ đem phong,
Lễ nghi dàn trước, bác đồng phục sau.
Từ công hờ đầu biết đâu?
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên .
Hồ công ám hiệu trận tiền,
Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
Đang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh liều giữa trận tiền,
Dạn dày cho biết dụng liền tướng quân!
Khí thiêng khi đã về thần ,
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng!
Quốc ngữChú thích
mặn màMặn mà: đậm đà, tỏ ra có tình cảm chân thật làm cho người ta dễ xiêu lòng.
Thế côngThế công: trận thế lập để tấn công.
thế hàngThế hàng: sắp đặt quân sĩ để ra đầu hàng.
Chỉnh nghiChỉnh nghi: sửa soạn chỉnh đốn nghi vệ.
thúc Thúc giáp: bó áo giáp lại, tức xếp khí giới lại.
giải binhGiải binh: giải tán binh đội.
thành hạ yêu minhThành hạ yêu minh: (yêu: cầu, xin, minh: thề) ép người thất thế phải cầu hoà với mình và phải thề với mình ở dưới chân thành. Theo Tả truyện: Thành hạ yêu minh chư hầu sở thậm sỉ = sự thề ở dưới chân thành là điều cực kỳ xấu hổ (vì trong thành không chống cự được nữa, phải xin ăn thề ngay nơi đó) của các nước chư hầu. Trường hợp Từ Hải có khác. Từ Hải đâu có phải là người thất thế phải xin hàng mà chỉ vì nghe lời Thuý Kiều mới chịu bó thân về với triều đình. Khi nhận hàng, Từ Hải có yêu cầu ba điều với Lợi Tiện là người được Hồ Tôn Hiến sai đi dụ hàng:<br>- Xin được phong tước hầu.<br>- Xin ở lại nguyên chỗ không phải đổi đi nơi khác.<br>- Xin không phải giải binh. Lợi Tiện về báo tin trên với Hồ Tôn Hiến. Tổng đốc chấp nhận, lập kế hoạch phúc kích rồi sai Lợi Tiện lại đến cùng với Từ Hải ăn thề, hứa bằng lòng nhận ba việc mà Từ đã xin và hẹn ngày kéo quân đến đón hàng. Ấy việc yêu minh của Từ Hải là như vậy.
giữ giàngGiữ giàng: cũng như giữ gìn nhưng có ý coi sóc cẩn thận hơn. Cả câu ý nói việc quân bỏ chẳng giữ gìn cẩn thận như trước nữa.
Vương sưVương sư: (*vương*: vua; *sư*: quân) quân của nhà vua, do Hồ Tôn Hiến chỉ huy.
quyết kế thừa cơQuyết kế thừa cơ: quyết định thi hành mưu kế thừa lúc Từ Hải để trể tràng việc canh gác.
bác đồngBác đồng: súng lớn. Xem chú thích câu 2314, chữ này đi với chữ phát súng ở câu 2514.
Đại quan lễ phụcĐại quan lễ phục: Bản KOM, viết chữ ? ? đại quan là đội mũ lớn. Bản QVĐ viết chữ [ ] đại quan là quan lớn. Như vậy có hai cách giải thích: nếu theo bản KOM thì đại quan lễ phục có nghĩa là đội mũ cao, mặc áo lễ, không mặc đồ chiến phục; nếu theo QVĐ thì đại quan lễ phục có nghĩa là mặc lễ phục của một vị quan lớn.
ra đầuRa đầu: ra đầu hàng.
cửa viênCửa viên: cửa làm bằng hai chiếc xe dựng càng lên trời, cửa doanh trại.
ám hiệuÁm hiệu: hiệu lệnh kín dùng trong việc binh.
bất ýBất ý: không để ý đề phòng.
sa cơSa cơ: rơi vào bước khốn cùng.
Dạn dàyDạn dày: tức dày dạn, đã từng trải, từng chịu đựng nguy hiểm khó khăn đến mức đã quen đi.
Khí thiêngKhí thiêng: tinh khí của non sông tích chứa lại mà sinh ra bậc anh hùng.
về thầnVề thần: trở về cõi tinh thần. Cả câu ý nói Từ Hải đã chết.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.