Truyện Kiều, bản 1866
Truyện Kiều, bản 1866
Trang 96 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Đến bây giờ mới thấy nhau,
Mà lòng đã chắc những ngày một hai ."
Cùng nhau trông mặt cả cười ,
Dan tay về chốn trướng mai tự tình.
Tiệc bày thưởng tướng khao quân,
Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân.
Vinh hoa bõ lúc phong trần ,
Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.
Trong quân có lúc vui vầy,
Thong dong mới kể sự ngày hàn vi :
Khi Thương Tích , khi Lâm Truy ,
Nơi thì lừa đảo , nơi thì xót thương .
Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
Chút còn ân ái đôi đường chưa xong."
Từ công nghe nói thuỷ chung ,
Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
Nghiêm quân , tuyển tướng sẵn sàng
Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao .
Ba quân chỉ ngọn cờ đào ,
Đạo ra thương Tích, đạo vào Lâm Truy.
Mấy người phụ bạc xưa kia.
Chiếu danh tầm chọn bắt về hỏi tra.
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Quốc ngữChú thích
một haiý nói chắc chắn, không thể thay đổi được, một cách cương quyết, hoàn toàn tin tưởng.
cả cườicười lớn tiếng.
trướng maimàn có thêu hoa mai, đây chỉ phòng riêng của hai vợ chồng. Chữ “mai” cũng có thể chỉ được dùng cho đẹp lời như trướng đào, trướng hổ, trướng hồng...
Vinh hoavẻ vang, sung sướng.
phong trầnkhổ sở vất vả.
thêm xuânthêm đằm thắm.
hàn vi(“hàn”: lạnh, “vi”: nhỏ) lúc còn chưa làm nên, lúc còn nghèo hèn.
Thương Tíchnên đọc là “Vô Tích”. Nơi Thuý Kiều bị Hoạn thư bắt về hành hạ.
Lâm Truynơi Thuý Kiều bị Tú bà đánh đập, lừa gạt bắt phải tiếp khách.
lừa đảoKiều bị Mã Giám sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh lừa gạt.
xót thươngKiều đã được Mã Kiều, bà quản gia, sư Giác Duyên thương xót.
thuỷ chung(“thuỷ”: bắt đầu, mới; “chung”: cuối cùng, hết) đầu đuôi câu chuyện.
Nghiêm quânra lệnh cho quân sĩ phải nghiêm chỉnh hàng ngũ.
ruổi saochạy mau như sao băng, do chữ “tinh trì” dịch ra.
Ba quânba đạo quân theo tổ chức binh đội xưa gồm tiền quân, trung quân và hậu quân; đây chỉ quân sĩ.
cờ đàocờ đỏ, cờ hiệu của quân đội.
phụ bạcphụ tình ở bạc.
Chiếu danhchiếu theo tên.
tầm chọnnên đọc là “tầm nã”: tìm bắt.
lệnh tiễntên cây cờ, giữa lá cờ có viết chữ 令 (lệnh) và trên đầu cán cờ có hình mũi tên để làm hiệu lệnh cho việc hành quân, cờ này có nghĩa là lệnh quân đi mau như tên.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.