Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Cười rằng: “Tri kỉ
TRƯỚC SAU
Bản A, bản C, bản D và bản này đều TRƯỚC SAU. Nhưng câu 2198 ở trên đã kết thúc bằng MAI SAU, người khắt khe có thể cho thế là trùng vận. Phải chăng vì lẽ đó mà bản B đổi thành THẤY ÂU.
mấy người!
"Khen cho con mắt tinh đời,
“Anh hùng ĐỨNG giữa trần ai mới già.
"Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau."
Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân.
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
PHÒNG
BUỒNG RIÊNG ở hai bản A, B;
PHÒNG RIÊNG ở hai bản C, D và bản này.
riêng sửa chốn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên.
Trai anh hùng gái thuyền quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh
MANG
MÊNH MÔNG và MÊNH MANG không khác nhau lắm về mặt ý nghĩa, nhưng khác nhau về vần: một bên ÔNG, một bên ANG, theo cách đọc hiện đại. Ba bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879 đều khắc MÊNH MÔNG. Nhưng ở hai câu trước và sau có vần ƯƠNG (BỐN PHƯƠNG cuối câu 2214 và LÊN ĐƯỜNG giữa câu 2216) nên bản B rồi bản A đổi lại thành MÊNH MANG để gieo vần cho phù hợp.
Thực ra, xưa gieo vần theo vận thư; cách đọc có thể điều chỉnh như HỒNG > HƯỜNG, VONG > VƯƠNG, KIM > CÂM...
,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong.
Nàng rằng: "Phận gái chữ tòng,
“Chàng đi thiếp cũng
QUYẾT
Bản A in MỘT LÒNG. Nhưng các bản Nôm từ bản B, bản C, bản D đến bản này đều khắc QUYẾT LÒNG XIN ĐI.
lòng xin đi”.