Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 7 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Ào ào GIÓ LỐC rung cây,
Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Đè chừng ngọn gió lần theo,
VẾT giày từng bước in rêu rành rành.
Mặt nhìn ai nấy đều kinh,
Nàng rằng: "Này thực tinh thành chẳng xa.
“Hữu tình ta lại BIẾT ta,
CHẲNG nề u hiển mới là chị em.”
Đã lòng hiển hiện cho xem,
Tạ lòng nàng lại nối thêm VÀ lời.
Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.
Dùng dằng DỞ ở DỞ về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha MÙI áo nhuộm non da trời.
Quốc ngữChú thích
GIÓ LỐCỞ A, C, D: ĐỔ LỘC; ở B TRÚT LỘC. Bản này đặt chữ GIÓ ở vào vị trí các động từ ĐỔ, TRÚT, vậy LỘC phải đọc là LỐC.
VẾTVẾT GIÀY chứ không phải DẤU GIÀY như ở A, B, C, D. RÊU và RÀNH chữ khắc không chuẩn.
BIẾTCác bản đều GẶP TA, riêng bản này khắc BIẾT TA.
CHẲNGCHẲNG NỀ như ở C, D. Hai bản A, B đổi thành CHỚ NỀ.
VÀ ở đây có nghĩa cũng như VÀI, nhưng đọc VÀ thì ăn khớp với cách ghi Nôm hơn. Riêng ở bản B thì lại nên đọc VÀI vì ghi là NHỊ + BÀI.
DỞ ở DỞ vềĐọc DỞ vì thanh phù là DỮ. Về mặt nghĩa, thì DỞ Ở DỞ VỀ cũng gần gần như NỬA Ở NỬA VỀ trong các bản ĐDA, KOM, TMĐ, LVĐ.
MÙIKhắc chữ MÙI vậy cứ đọc MÙI, không cần đổi ra MÀU như ở bản A. Ở Nghệ Tĩnh, MÙI cũng có cả nghĩa là “màu”.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.