Truyện Kiều, bản 1902
Truyện Kiều, bản 1902
Trang 10 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không
Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình
Chênh chênh bóng nguyệt xế mành
Tựa nương bên triện một mình thiu thiu
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều
Có chiều phong vận có chiều thanh tân
Sương in mặt tuyết pha thân
Sen vàng lãng đãng như gần như xa
Rước mừng đón hỏi dò la
"Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây
Thưa rằng: “Thanh khí xưa nay
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên
Hàn gia ở mé tây thiên
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu
Mấy lòng hạ cố đến nhau
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng
Vâng trình hội chủ xem tường
sao trong sổ đoạn trường có tên
Quốc ngữChú thích
nươngB-T: NGỒI.
triệnlan can uốn lượn hình chữ triện.
Sương in mặt tuyết pha thânCâu này tả vẻ đẹp: mặt thanh tú, da trắng nõn.
Sen vàngbước chân. Do một điển tích xưa, người đẹp bước một bước dưới gót như nảy một bông sen vàng, nên cũng gọi “gót sen”.
Thanh khíchữ ở Kinh Dịch “ĐỒNG THANH TƯƠNG Ứng, ĐỒNG KHÍ TƯƠNG CẦU”: cùng một thanh thì hợp nhau, cùng một khí thì tìm đến nhau.
Hàn gialà “nhà tôi”, nói kiểu nhún nhường như chữ “tệ xá”. MÉ tây: phía tây, bản B-T phiên là MÁI tây là âm xưa, không phải dị bản. Còn chữ THIÊN ở câu này nghĩa là đường đi ở bãi tha ma, cả câu này chỉ mộ Đạm Tiên.
hội chủcủa hội “đoạn trường”.
saoB-T: XEM.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1902
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1902
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.