Truyện Kiều, bản 1902
Truyện Kiều, bản 1902
Trang 25 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau rầm rập như trời đổ mưa
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu
Khi tựa gối khi cúi đầu
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày
Rằng: "Hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào
Lựa chi những bậc tiêu tao
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người".
Rằng: “ Quen mất nết đi rồi
Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao
Lời vàng vâng lĩnh ý cao
Hoạ dần dần bớt chút nào được không".
Ngọn lan càng tỏ thức hồng
Đầu mày đuôi mắt càng nồng tấm yêu
Sóng tình dường đã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi
Quốc ngữChú thích
Đụctiếng trầm đục, chứ không phải nước suối đục.
rầm rậpB-T: SẦM SẬP. Cũng có thể đọc RĂM RẮP.
gốiCái gối (đầu), cũng có bản Nôm viết gối là đầu gối (chân), còn Quốc ngữ thì không thể phân biệt được.
vò chín khúcvò chín khúc ruột, cách nói tu từ.
bậc tiêu taonhững cung bậc buồn.
Dộtchữ cổ, như ủ dột.
Quen mất nết đi rồiTức là quen nết đi mất rồi! Chứ không phải MẤT NẾT theo nghĩa MẤT DẠY, VÔ LỄ.
Ngọn lanB-T: HOA HƯƠNG. TT12 có dẫn lời giải của cụ Nguyễn Văn Tố thì NGỌN LAN là NGỌN ĐÈN bằng cỏ lan. Còn chính TT12 theo chữ HOA HƯƠNG và giải là vẻ đẹp của người con gái.
đuôiB-T: CUỐI.
yêuNguyên bản khắc chữ thiên 天, nhưng thế thì lạc mất vần, chỉ có thể do thợ khắc sai, vì dễ nhầm với chữ 夭, nhất là khi khắc gỗ.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1902
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1902
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.