Truyện Kiều, bản 1902
Truyện Kiều, bản 1902
Trang 5 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Lòng đâu sẵn món thương tâm
Thoạt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Phũ phàng chi mấy hoá công
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha
Sống làm vợ khắp người ta
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng
Nào người phượng chạ loan chung
Nào người tiếc lục tham hồng là ai
Đã không kẻ đoái người hoài
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Gọi là gặp gỡ giữa đường
Hoạ là người dưới suối vàng biết cho
Lầm rầm khấn khứa nhỏ to
Sụp ngồi và gật trước mồ bước ra
Một vùng cỏ áy bóng tà
Gió hiu hiu thổi một và bông lau
Chiếc trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh tám câu bốn vần
Quốc ngữChú thích
mónB-T và các bản khác: MỐI 䋦.
mấyB-T: BẤY, chỉ là cách đọc khác của MẤY, nếu phần sau bản B-T còn phiên BẤY chúng tôi xin phép thôi không chú dị bản.
khắpTT12 phiên chữ này là CHẮP (nối) là âm phổ thông của nó, nhưng theo BẢNG TRA CHỮ NÔM thì nó có cả âm KHẮP, các bản đều để là “khắp người ta” cho tương phản với “ma không chồng” câu sau, vậy xin phiên KHẮP.
KhéoB-T: HẠI thay. Chữ hại 害 rất dễ nhầm với chữ khéo 窖.
Nào ngườiCâu này và câu 90. Cả hai câu này theo TT12 là chỉ mấy người khách chơi ham cái sắc (tham hồng) từng đến với Đạm Tiên (chung chạ). Nhưng B-T giải nghĩa khác hẳn, cho phượng chạ loan chung là cảnh vợ chồng sum họp, còn TÍCH (không phải tiếc!) lục tham hồng là than cảnh Đạm Tiên cô độc chồng con chẳng có.
là aiXem chú thích câu 89.
kiếmB-T: giải nghĩa KIẾM là dâng, lễ, chứ không phải tìm kiếm. TT12 lại bác bỏ, cho KIẾM chỉ là tìm kiếm vì lúc này chị em đang “dan tay ra về”, không có sẵn hương, phải tìm chút hương du khách bỏ lại.
khấn khứaB-T: khấn VÁI.
và gậtB-T: ĐẶT CỎ, đồng thời chú rằng tục cổ đặt bó cỏ thay nén hương khi cúng để rót rượu vào, và cho là có nghĩa hơn VÀ GẬT? Nhưng đàn bà thường ngồi xuống xếp hai chân về một bên rồi mới vái, như vậy NGỒI VÀ (VÁI) GẬT là tả thực, không phải là vô nghĩa.
cỏ áyNhiều sách đều giải CỎ ÁY là cỏ vàng úa, có dáng tiều tuỵ, nhưng đây lại là tháng 3 “cỏ non xanh tận trân trời”! Phải chăng đây là ánh chiếu của “bóng tà” hay là vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”?
Chiếc trâmB-T: RÚT trâm.
tám câu bốn vầnB-T và TT12: BỐN CÂU BA VẦN, là dạng thơ tứ tuyệt, còn TÁM CÂU BỐN VẦN là dạng thơ luật Đường. KOM đã SỬA NGUYÊN TÁC, xin xem phần Phụ chú.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1902
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1902
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.