Truyện Kiều, bản 1902
Truyện Kiều, bản 1902
Trang 7 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Ào ào trút lộc rung cây
Ở trong dường có hương bay ít nhiều
Đè chừng ngọn gió lần theo
Dấu giày từng bước in rêu rành rành
Mặt nhìn ai nấy đều kinh
Nàng rằng: "Này thật tinh thành chẳng xa
Hữu tình ta lại gặp ta
Chớ nề u hiển mới là chị em”.
Đã lòng hiển hiện cho xem
Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời
Lòng thơ lai láng bồi hồi
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi
Dùng dằng nửa ở nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau chân theo một vài thằng con con
Tuyết in sắc ngựa câu dòn
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời
Quốc ngữChú thích
tinh thànhbụng thành tinh khiết.
u hiểnB-T giải nghĩa U là tối chỉ người chết, HIỂN là rõ chỉ người sống.
Lỏng buông tay khấuBuông lỏng tay cương cho ngựa đi thong thả.
dặm băngTT12 giải là dặm đường bằng phẳng, ĐDA và ntG giải là đường tắt (băng ngang). CVT chú rất giản dị dễ hiểu: băng là xa (chữ cổ).
lưng túi gió trăngLưng đây là nửa: Nửa túi gió trăng, tả cái tao nhã của “văn nhân”.
dònlà một sắc thái của đẹp: xinh dòn, tươi dòn, gợi lên ý tươi trẻ. Có người cho là DỒN (dồn vào), nếu vậy phải thay bộ nhật bằng bộ tài gẩy, hơn nữa KOM đã cẩn thận chú “GÌ CÒN THIẾT” tức thiết âm là GIÒN. Chiêm Vân Thị viết bộ túc bên chữ tồn và giải là nước “kiệu dòn” bước ngắn của ngựa khi cả 4 chân chạm đất, còn chạm 3 chân là “lang ba”.
mùiB-T: MÀU. Mùi cũng không sai, do xưa hay dùng lẫn lộn hai chữ mùi và màu, Tự điển Hán-Việt của Thiều Chửu (1942) vẫn còn dùng lẫn.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1902
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1902
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.