The 1866 edition of The Tale of Kiều
Missing page
Page 127 / 136
Tips: Click on any Hán-Nôm character to look it up in the dictionaries.
Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa ,
Mười phần xuân có gầy ba bốn phần.
Nỗi mừng ông lấy gì cân,
Lời tan hợp, chuyện xa gần thiếu đâu?
Hai em hỏi trước han sau,
Đứng trông, nàng đã trở sầu làm tươi.
Quây nhau lạy trước Phật đài,
Tái sinh trần tạ lòng người từ bi .
Kiệu hoa giục rước tức thì,
Vương ông dạy rước cùng về một nơi.
Nàng rằng: "Chút (?) phận hoa rơi,
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
Tính rằng mặt nước chân mây,
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?
Thì rày tái thế tương phùng ,
Khát khao đã thoả tấm lòng lâu nay!
Đã đem mình bỏ am mây,
Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa.
Mùi thiền đã bén muối ích,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
Sự đời đã tắt lò lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì?
Đã tu, tu trót qua thì thì thôi!
Modern VietnameseNote
dãi nguyệt dầu hoaDãi nguyệt dầu hoa: tức dãi dầu nguyệt hoa, ý nói bị đày đoạ trong cảnh nguỵêt hoa (*nguyệt hoa* chỉ sự tình ái giữa trai gái) khi bị ép phải vào thanh lâu.
Tái sinhTái sinh: làm cho sống lại.
trần tạTrần tạ: (*trần*: bày tỏ) tỏ lòng tạ ơn.
người từ biNgười từ bi: *người* ở đây chỉ Giác Duyên.*Nguyên truyện*: Viên ngoại nói: Cứ như lời đó thì người là cha mẹ trùng sinh của con đấy. Nói đoạn, nghiêng mình sụp lễ Giác Duyên, Vương bà, Kim Trọng, Vương quan và Thuý Vân đều lễ theo.
tái thế tương phùngTái thế tương phùng: được sống lại và được gặp lại nhau.
Title:
The 1866 edition of The Tale of Kiều
Authors:
N/A
Resource Types:
Text, Manuscript
Place of Publication:
Vietnam
Date Created:
1866
Formats:
Digital
Languages:
Han-Nom, Vietnamese
Subjects:
Nôm script--Vietnam, Vietnamese classical literature, Vietnamese literature
Access Condition:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.