The 1866 edition of The Tale of Kiều
The 1866 edition of The Tale of Kiều
Page 97 / 136
Tips: Click on any Hán-Nôm character to look it up in the dictionaries.
Mụ hoạn thư, vãi Giác Duyên,
Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
Thệ sư kể hết mọi lời,
Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy ,
Đạo trời báo phục chỉn ghê,
Khéo thay một mẻ tóm về đầy nơi.
Quân trung gươm lớn giáo dài.
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi ,
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.
Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên .
Từ rằng: "Ân oán hai bên,
Mặc nàng xử quyết , báo đền cho minh."
Nàng rằng: "Nhờ cậy uy linh,
Hãy xin báo đáp ân tình cho phu .
Báo ân rồi sẽ trả thù.
Từ rằng: "Việc ấy để cho mặc nàng."
Cho gươm mời đến Thúc lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường [giẽ/dế] run.
Nàng rằng: "Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Truy người cũ, chàng còn nhớ không?
Modern VietnameseNote
Thệ sư(“thệ”: thề, “sư”: quân) lời tuyên thệ trước lúc xuất quân, lời hiểu dụ trước khi xuất quân.
chấp uychấp hành nghiêm lệnh.
báo phụcbáo trả lại, tức ân trả ân, oán trả oán.
chỉn ghê(“chỉn”: vốn) vốn thật đáng sợ.
Quân trungtrong chỗ đóng quân.
Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi(vệ là toán quân năm trăm người, cơ là một toán quân) nói chung các đơn vị trong quân đội.
Bác đồng(“bác”: súng lớn) súng lớn bằng đồng. Bản HĐH chép là vác đòng (lưỡi mác và chiếc lao) bản TVK chép là vác đồng và chú là binh khí. Câu 2510 cũng có chữ “bác đồng” đúng hơn “vác đòng” vì sau đó ở câu 2514, Hồ Tôn Hiến đã ra lệnh “Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ”.
Trướng hùmdo chữ hổ trướng, bức màn da hổ chỉ chỗ ngồi chỉ huy của ông tướng, nơi làm việc quân cơ.
cửa viên(“viên”: càng xe) chỗ đóng quân có quây các xe lại làm thành hàng rào và có dựng càng hai xe làm cửa ra vào.
xử quyếtxét xử quyết định.
cho phucho bõ, cho đáng, cho thoả.
mình dường [giẽ/dế] runý nói sợ lắm run rẩy cả tay chân. Ta thường nói sợ chết run chết dế. Câu này bản K-TK, BKD, NVV chép là: “Mặt như chàm đổ, mình dường ‘giẽ giun’”. Nguyễn Văn Vĩnh dịch “giẽ giun” sang tiếng Pháp là bécassine. Trương Vĩnh Ký phiên âm là: “Mặt như chàm đổ, thân dường ‘cầy run’”. Trần Ngươn Hạnh trong bản Abel des Michels đã viết chữ nôm, “cầy run” là 猉 敦. Như vậy chữ cầy viết theo bộ 犭. Như vậy chữ “cầy” viết theo bộ “khuyển”, chữ “giẽ” viết theo bộ “điểu” và chữ “dế” viết theo bộ “trùng”. Bản QVĐ đã viết theo bộ “trùng” nên Hồ Đắc Hàm và Ưng Dự đã phiên âm là “dế”. (Hồ Đắc Hàm viết sai chính tả là rế).
Title:
The 1866 edition of The Tale of Kiều
Authors:
N/A
Resource Types:
Text, Manuscript
Place of Publication:
Vietnam
Date Created:
1866
Formats:
Digital
Languages:
Han-Nom, Vietnamese
Subjects:
Nôm script--Vietnam, Vietnamese classical literature, Vietnamese literature
Access Condition:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.