Nghiên cứu Ngôn ngữ học và Nghiên cứu Văn học
Bộ sưu tập này tập hợp những công trình nghiên cứu hay và tiêu biểu về văn học, ngôn ngữ, và chữ viết Việt Nam, phản ánh tinh hoa văn hóa dân tộc qua nhiều thời kỳ. Bộ sưu tập không chỉ dành cho những ai quan tâm đến nghiên cứu văn học và ngôn ngữ Việt Nam, mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho những người muốn khám phá chiều sâu của di sản văn hóa dân tộc.
Thi pháp Truyện Kiều
Thi pháp Truyện Kiều
Giáo sư Trần Đình Sử, tác giả của “Thi pháp Truyện Kiều” là giáo sư chuyên gia hàng đầu về văn học, là một trong những người tiên phong xây dựng hướng nghiên cứu thi pháp học ở Việt Nam. Giáo sư đã xuất bản hàng trăm công trình khoa học trong nước và quốc tế. Giáo sư Trần Đình Sử “yêu ‘Truyện Kiều’ từ thời trẻ” và từ những năm 1960 đã bắt đầu có ý thức sưu tập tư liệu về “Truyện Kiều”. Đến những năm 1970, ông bắt đầu nghĩ đến việc nghiên cứu thi pháp truyện Kiều. Trải qua bao năm nghiền ngẫm, cuốn sách “Thi pháp Truyện Kiều” đã được xuất bản lần đầu tiên năm 2002, sau đó liên tục được tái bản. Trong lần xuất bản năm 2018, tác giả đã có những chỉnh lí, bổ sung để làm tăng thêm giá trị cuốn sách.
Nghiên cứu Văn bản Truyện Kiều
Nghiên cứu Văn bản Truyện Kiều
“Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều” của PGS.TS. Đào Thái Tôn là một công trình nghiên cứu khoa học công phu, có giá trị cao và thực sự cần thiết nếu muốn đi sâu tìm hiểu Truyện Kiều. Dựa trên văn bản gốc, bằng phương pháp thống kê những từ ngữ dị biệt giữa các văn bản Truyện Kiều, tác giả xác lập phương hướng đi tìm “nguyên lời Nguyễn Du” trong điều kiện tất cả các bản Kiều hiện có đều không phải nguyên tác của thi hào Nguyễn Du. Ngoài phần chụp nguyên văn chữ Nôm bản gốc còn có phần ghi chú bằng nguyên dạng chữ Nôm những chỗ bản gốc khắc sai, hoặc bị mất nét do thời gian lưu giữ. Tác giả cũng chỉ rõ mức độ xô lệch của từ ngữ trên văn bản hệ Huế lớn hơn nhiều so với văn bản hệ Thăng Long. Điều này giúp thêm cứ liệu cho việc phân định những vùng văn bản gần với nguyên tác hơn. Cuốn sách còn có một số bài viết quan trọng của tác giả chứng minh các vấn đề gây tranh cãi và ngộ nhận hiện nay như: không có “bản Phường” với nghĩa là bản Truyện Kiều do Phạm Quý Thích đưa in, không có “bản Kinh” Truyện Kiều do vua Tự Đức sửa chữa. Nội dung cuốn sách với những nghiên cứu chuyên sâu công phu sẽ góp phần cung cấp thông tin giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện về Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà văn hoá cùng những ai quan tâm đến nền văn học Việt Nam.
Một điểm Tinh hoa - Thơ văn Hồng Hà Nữ sĩ
Một điểm Tinh hoa - Thơ văn Hồng Hà Nữ sĩ
Cuốn sách là một công trình công phu, nhiều tư liệu, gồm 4 phần: Truyền kỳ tân phả, Chinh phụ ngâm khúc diễn âm, Hồng Hà phu nhân di văn và một phần phụ lục những nghiên cứu quan trọng và gần đây nhất về Đoàn Thị Điểm cũng như tác phẩm của nữ sĩ, của các học giả, các nhà nghiên cứu gần xa. Sách do PGS.TS Trần Thị Băng Thanh sưu tập, khảo cứu, dịch, phiên âm, chú thích văn bản một cách khoa học, tỉ mỉ. Soạn giả Trần Thị Băng Thanh đã kế thừa và xin phép đưa vào sách những phần dịch đã hoàn chỉnh của các học giả tiền bối Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp, Bùi Hạnh Cẩn, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Kim Hưng. “Một Điểm tinh hoa - Thơ văn Hồng Hà nữ sĩ- Bản dịch chú và phiên âm đầy đủ nhất các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm” là công trình có giá trị và hữu ích cho giới nghiên cứu và bạn đọc yêu thích văn chương. Cuốn sách không chỉ vẽ lên chân dung của Hồng Hà nữ sĩ qua những tác phẩm văn chương nhiều giá trị lịch sử, đồng thời vẫn còn nguyên giá trị thời sự cho tới hôm nay, mà còn là tấm lòng tri âm của “người thiên hạ” đối với bà gần ba trăm năm, sau khi bà qua đời.
Lục bát và Song thất lục bát: Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại
Lục bát và Song thất lục bát: Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại
Có lẽ đã là người Việt Nam thì không ai là không thuộc đôi ba câu lục bát ca dao, lục bát “Truyện Kiều”. Và cùng với “Truyện Kiều”, “Chinh phụ ngâm”, nền văn học trung đại và hiện đại của nước ta còn có bao nhiêu tác phẩm xuất sắc được phô diễn bằng hai thể thơ đậm đà màu sắc dân tộc: lục bát và song thất lục bát. Từ lâu các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam trong và ngoài nước đã không những đi sâu tìm hiểu các tác phẩm cụ thể mà cũng rất quan tâm tìm hiểu chính hai thể thơ đã góp phần làm nên sự thành công của các tác phẩm bất hủ ấy. Tuy nhiên cho đến nay hầu như vẫn chưa một ai dành hẳn một chuyên đề cho một thể thơ hoặc cho cả hai thể thơ nói trên. Trong khung cảnh đó, cuốn sách “Lục bát và song thất lục bát (lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại)” của Tiến sĩ Phan Diễm Phương là sự bù lấp rất đáng kể chỗ trống vắng đó. Thông qua khảo sát, phân tích và so sánh hàng loạt tác phẩm lục bát và song thất lục bát tiêu biểu xuất hiện trên thi đàn Việt Nam trong suốt 5 thế kỷ, từ trung đại đến hiện đại, tác giả đã khái quát những chặng đường phát triển và các đặc trưng thể loại trong mối liên quan mật thiết giữa thi luật dân tộc và nội dung thi ca của hai thể thơ đặc sắc này.
Lời giãi bày của Văn chương
Lời giãi bày của Văn chương
“Lời giãi bày của Văn chương” là tập phê bình tiểu luận của tác giả Phan Diễm Phương, được tuyển chọn từ các bài viết mà tác giả đã công bố trên các sách báo chuyên ngành. Cuốn sách được chia làm hai phần. Phần I, “Cảm nhận” bao gồm những bài bình luận về văn chương của một số tác giả đã nổi tiếng hoặc đang trên đường tìm tòi tự khẳng định trong đời sống văn học Việt Nam đương đại: Nguyễn Mỹ, Tô Hà, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Thạch Quỳ, Nguyễn Mạnh Tuấn, Hà Khánh Linh, Nguyễn Quang Lập, Trần Thuỳ Mai… Phần II, “Suy nghĩ” đi vào tìm hiểu một số khía cạnh thuộc phong cách, thi pháp của các nhà văn lớn đã khuất như Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam; và một số vấn đề ngọn nguồn, thi pháp, cũng như số phận lịch sử của hai thể thơ nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam: lục bát và song thất lục bát.
Dấu ấn tiếng Việt trong “Sách sổ sang chép các việc” (1822)
Dấu ấn tiếng Việt trong “Sách sổ sang chép các việc” (1822)
Khác với “Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rrodes” (1651), “Sách sổ sáng chép các việc” của Philiphê Bỉnh (1822) là một tác phẩm không mấy quen thuộc, nếu không nói là xa lạ với độc giả nói chung. Một phần cũng là vì quy mô nhỏ bé cũng như tính chất cá nhân của cuốn sách - đó là một tập hồi ký của một tác giả không được biết tiếng. Mặt khác, còn là vì những hạn chế của điều kiện in ấn, xuất bản và phổ biến một tác phẩm viết tay như thế ở trong nước. Tuy nhiên, đối với những người quan tâm đến tiếng Việt nói chung và những người nghiên cứu lịch sử tiếng Việt nói riêng thì đó là một tư liệu rất đáng quý về tiếng Việt cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Trước khi thực hiện chuyên luận này, PGS.TS. Nguyễn Phương Trang đã tiến hành chuyển tự nguyên bản chép tay cuốn “Sách sổ sang chép các việc” sang dạng in ấn với hệ thống chữ Quốc ngữ hiện hành vào năm 2012. Với tư liệu chữ Quốc ngữ “Sách sổ sang chép các việc” này, tác giả chủ trương chỉ miêu tả và phân tích một số hiện tượng, những “dấu ấn” đáng chú ý về ngữ âm, chữ viết, từ vựng và ngữ pháp của thời kỳ bấy giờ, chứ không phải là toàn bộ các biểu hiện đầy đủ của nó. Vì vậy, thông qua cuốn chuyên luận này, tác giả hy vọng cung cấp một kết qủa nghiên cứu về hiện trạng tiếng Việt (ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp) cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX (qua văn bản Chữ quốc ngữ “Sách sổ sang chép các việc - 1822” cho giảng viên, sinh viên, nghiên cứu viên ngành ngôn ngữ học, văn học, văn hoá học, sử học, dân tộc học; đồng thời, cũng cấp một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc dạy và học tiếng Việt, chữ Việt trong nhà trường.
Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872
Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872
“Tư liệu Truyện Kiều - Bản Duy Minh Thị 1872” của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị đặc biệt đối với những ai quan tâm đến Truyện Kiều và văn bản học. Cuốn sách tập trung khảo cứu bản Kiều do nhà Duy Minh Thị khắc in năm 1872 — một trong những ấn bản cổ hiếm hoi còn lưu giữ được cho đến nay. Tác giả không chỉ tiến hành đối chiếu bản Duy Minh Thị với nhiều văn bản Kiều khác, mà còn phân tích sâu sắc về ngữ âm, từ vựng và phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Du, nhằm tìm ra những dấu ấn gần gũi nhất với nguyên tác. Bằng những phương pháp phân tích khoa học và lập luận chặt chẽ, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã đưa ra nhiều nhận định xác đáng về sự khác biệt giữa các bản Kiều qua từng thời kỳ, góp phần soi sáng quá trình truyền bá và biến đổi của kiệt tác này. Cuốn sách không chỉ là nguồn tài liệu quý giá cho giới nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học mà còn mở ra nhiều hướng tiếp cận mới để tìm hiểu sâu hơn về Truyện Kiều và di sản văn hóa Việt Nam.
90 Chân dung Văn hoá Văn chương Việt
90 Chân dung Văn hoá Văn chương Việt
Cuốn sách dày cả ngàn trang giới thiệu chân dung 90 nhân vật tiêu biểu. Với giáo sư Phong Lê, đây trước hết là một cuộc điểm lại, như một hành trình trở về với những đối tượng nghiên cứu mà ông đã dành trọn gần 60 năm đọc, học và khảo cứu. Từ những tên tuổi đã tạo nên bước chuyển động quan trọng trong văn học trung đại – như Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm… cho đến những gương mặt kiệt xuất như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…, tác giả dần dẫn dắt người đọc đi qua dòng chảy liên tục của văn học Việt Nam. Phần lớn các chân dung còn lại là những tên tuổi lớn làm nên diện mạo văn học Việt Nam thế kỷ XX, giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ vào quỹ đạo hiện đại hóa. Tập sách, qua các chân dung ấy, không chỉ phác thảo một bức tranh thấu suốt về hành trình văn hóa của dân tộc mà còn mở ra cho độc giả một viễn tượng rộng lớn – nơi hiện hữu khát vọng tự do, tinh thần sáng tạo, cũng như sự kiếm tìm cái đẹp và sự thật.
Từ Nguyên
Từ Nguyên
Thuật ngữ "Từ nguyên học" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "etimologia", có nghĩa là "cách nói đúng", hoặc "nghĩa đúng của một từ". Theo cách hiểu thông dụng, từ nguyên học, một phân ngành của ngôn ngữ học lịch sử, nghiên cứu về lịch sử của các từ, nguồn gốc của chúng; những hình thái, ngữ nghĩa gốc bị lu mờ trong ngôn ngữ đương thời... Vì vậy, nghiên cứu từ nguyên là một công việc nghiêm túc, không thể tiến hành ngẫu hứng dựa trên suy luận chủ quan thuần túy, mà đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có phương pháp khoa học được xây dựng dựa trên những tiêu chí chặt chẽ. Có thể nói, ngành từ nguyên học vốn không có nhiều người dấn thân, nếu có, thì thời gian họ dành cho việc nghiên cứu cũng gián đoạn, rời rạc... Học giả An Chi là người hiếm hoi trong số đó, đã dành khoảng thời gian dài xuyên suốt với việc truy tìm nguồn gốc đến các nguyên từ, mà ông thích gọi công việc đó là "rong chơi miền chữ nghĩa", nhưng với một tinh thần khoa học nghiêm túc, không hề ngẫu hứng đưa ra những suy luận thuần túy chủ quan.
Truyện Kiều Bản Duy Minh Thị 1872 - An Chi Phiên âm, chú giải và thảo luận
Truyện Kiều Bản Duy Minh Thị 1872 - An Chi Phiên âm, chú giải và thảo luận
Từ khi xuất hiện đầu thế kỷ XIX, "Truyện Kiều" đã có vô số bản khắc in, phiên âm, chú giải và nghiên cứu, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho người Việt. Đầu thế kỷ XXI, học giả An Chi tiếp tục góp thêm một tiếng nói đặc sắc với Truyện Kiều – bản Duy Minh Thị 1872. Cuốn sách nổi bật ở ba điểm chính: (1) cách phiên âm chính xác, hợp lý, dựa trên đặc trưng chữ Nôm miền Nam và chỉnh những sai sót trong quá trình khắc in; (2) phần chú giải và thảo luận được viết tỉ mỉ, sắp xếp khoa học, giàu cảm xúc và đưa ra nhiều cách hiểu mới mẻ về ngôn từ Truyện Kiều; (3) tinh thần nghiêm cẩn và đối thoại học thuật của tác giả, thể hiện qua việc đối chiếu nhiều nguồn và lắng nghe ý kiến bạn đọc. Cùng với hình minh họa sinh động, tác phẩm này đã làm phong phú thêm “vườn hoa Kiều học” đa sắc màu.
Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt
Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt
"Tập Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt" gồm các bài viết của GS. Cao Xuân Hạo đăng rải rác từ 1982 đến 2001, chia thành ba phần: Tiếng Việt, Văn Việt, và Người Việt và văn hóa Việt. Sách thể hiện quan điểm của ông về ngôn ngữ, văn học và văn hóa dân tộc. Dù trọng tâm là tiếng Việt, ông vẫn bàn rộng đến những lĩnh vực liên quan như văn học và văn hóa. Các bài viết của ông thường sắc bén, ít trung hòa, dễ gợi phản ứng mạnh nơi độc giả — người tán thưởng, kẻ phản đối, hiếm ai thờ ơ. Bởi ông không chạy theo dư luận, nhiều ý kiến nghe có vẻ nghịch nhĩ nhưng vẫn giữ sự nhã nhặn. Hầu hết các bài trong tập không mang tính chuyên môn, không đòi hỏi kiến thức ngữ học sâu. Với bạn đọc muốn tìm hiểu kỹ hơn về cơ sở khoa học, có thể tham khảo các công trình khác của ông như "Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng", "Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa", "Âm vị học và Tuyến tính", hoặc các tạp chí chuyên ngành như "Ngôn ngữ", "Ngôn ngữ & Đời sống".
Âm tiết và Loại hình Ngôn ngữ
Âm tiết và Loại hình Ngôn ngữ
Đây là cuốn sách đặt nền móng cho các nghiên cứu về ngôn ngữ học sau này của tác giả. Khác với các nhà nghiên cứu cùng thời sử dụng mô hình ngôn ngữ học của Liên Xô cũ, GS. TS Nguyễn Quang Hồng tiếp thu truyền thống âm vận học Trung Hoa, nhờ những năm tháng học tại Đại học Bắc Kinh. Trong đó, tác giả nghiên cứu tiếng Việt như một ngôn ngữ đơn lập: mỗi âm tiết không chỉ là đơn vị phát âm (như ngôn ngữ Âu châu), mà còn là đơn vị mang nghĩa, có tư cách như một từ độc lập. Qua việc khẳng định vai trò của âm tiết trong việc xây dựng lời nói và các phát ngôn, tiếng Việt được nghiên cứu một cách trọn vẹn với những nét đặc thù của nó. Các nền móng lý thuyết này có sức ảnh hưởng lớn và được vận dụng trong nhiều trong nghiên cứu của các thế hệ sau.
Âm tiết Tiếng Việt và Ngôn từ Thi ca
Âm tiết Tiếng Việt và Ngôn từ Thi ca
Thơ ca Việt Nam có truyền thống lâu đời và lời bàn về thơ đã có từ xưa, sách vở nghiên cứu về thơ Việt Nam kể từ đầu thế kỉ XX cũng có không ít. Song lí thuyết về thi học trên bình diện ngữ âm, thì có thể nói đây là công trình đầu tiên, bởi các nhà làm sách trước đây phần nhiều mô tả thi luật theo kinh nghiệm truyền thống. Đây là chuyên luận được tác giả ấp ủ và thực hành giảng dạy đúng 40 năm nay, bây giờ mới có điều kiện viết thành sách. Với định hướng như trên, chuyên luận chia thành 3 phần: (1) Ngôn từ thi ca Việt : Những góc nhìn cần thiết (3 chương đầu), trình bày những lí thuyết cơ sở của chuyên luận. (2) Ngôn từ thi ca Việt: Những thể thức cơ bản (gồm 7 chương) trình bày thi luật học thi ca tiếng Việt thông qua mô tả chi tiết âm luật của các thể thơ chính. (3) Ngôn từ thi ca Việt : Những khía cạnh mỹ cảm (3 chương cuối) là phần nghiêng về “thi thẩm học”, trình bày lý thuyết và phân tích cụ thể về những khía cạnh mỹ cảm của âm điệu thi ca tiếng Việt .
Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn
Ngôn ngữ. Văn tự. Ngữ văn
Cuốn sách này là tuyển tập các bài viết quan trọng của GS. TS Nguyễn Quang Hồng về ngôn ngữ học, văn tự học và ngữ văn học trong suốt 40 năm, với sự chắt lọc và tinh chỉnh đầy công phu. Các chuyên luận có thể được chia thành 2 mảng lớn: Ngôn ngữ học và nghiên cứu việt ngữ Ngữ văn học và nghiên cứu hán nôm Các chuyên luận khai thác nhiều vấn đề quan trọng trong ngôn ngữ học như phân biệt các loại hình ngôn ngữ, chuẩn hoá phát âm tiếng Việt, phân tích cấu trúc âm tiết, khảo cứu chữ Nôm,… Không chỉ mang tính tổng kết và bao quát các vùng nghiên cứu chính của GS. TS Nguyễn Quang Hồng, công trình này còn là nền móng để các nghiên cứu liên ngành sau này kế thừa để tiếp tục đặt ra những câu hỏi mới và phát triển xa hơn.
Ngữ pháp Tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ
Ngữ pháp Tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ
Đây là một cuốn giáo trình rất cơ bản về lý luận tiếng Việt do Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, một nhà nghiên cứu có uy tín lớn về chuyên ngành Ngôn ngữ học của Việt Nam biên soạn. Sách có nội dung phong phú về học thuật, có lý luận ngôn ngữ học hiện đại, xuất phát từ thực tiễn của tiếng Việt. Tác giả đã trình bày có hệ thống hàng loạt vấn đề then chốt của ngữ pháp tiếng Việt bằng một nghệ thuật sư phạm chuẩn mực, nhờ đó người đọc dễ dàng lĩnh hội được nội dung cuốn sách, dù đó là một sinh viên chuyên ngành, sinh viên ngoại ngữ ngành thông dịch, phiên dịch hay là các thầy cô giáo giảng dạy tiếng Việt và Ngữ văn nói chung. Sách này được dùng cho các sinh viên Ngôn ngữ học, các học viên cao học, nghiên cứu sinh, các giáo viên Trung học, học viên các trường Cao đẳng và đại học Sư phạm chuyên ngành Ngữ văn Việt Nam.
Bài viết chuyên đề
Bộ sưu tập "Tinh hoa Văn học và Ngôn ngữ Việt Nam": Giá trị, Di sản và Hướng tiếp cận Nghiên cứu
4 tháng 4, 2025
Bộ sưu tập "Tinh hoa Văn học và Ngôn ngữ Việt Nam": Giá trị, Di sản và Hướng tiếp cận Nghiên cứu

1. Giới thiệu về Bộ sưu tập

Bộ sưu tập Tinh hoa Văn học và Ngôn ngữ Việt Nam là một tập hợp các công trình nghiên cứu quan trọng về văn học, ngôn ngữ và chữ viết Việt Nam. Đây không chỉ là một kho tư liệu phản ánh chiều sâu của di sản văn hóa dân tộc qua nhiều thời kỳ, mà còn là một nền tảng quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực khoa học nhân văn. Bộ sưu tập này mang đến một góc nhìn toàn diện về sự phát triển của văn học Việt Nam, từ thời kỳ trung đại đến hiện đại, đồng thời làm nổi bật những giá trị văn hóa và tư tưởng gắn liền với từng giai đoạn lịch sử.

2. Vai trò của bộ sưu tập trong nghiên cứu văn học và ngôn ngữ

Bộ sưu tập không chỉ tập trung vào các tác phẩm văn học tiêu biểu, mà còn đưa vào hệ thống nghiên cứu về các thể loại văn chương quan trọng như lục bát, song thất lục bát, truyện thơ, và văn xuôi bác học. Sự phong phú về thể loại không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự vận động của văn học Việt Nam qua các thời kỳ, mà còn mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học và ngôn ngữ học.

Bên cạnh đó, bộ sưu tập còn tập trung vào các nghiên cứu về chữ viết và ngữ âm tiếng Việt trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Những văn bản chữ Hán - Nôm, chữ Quốc ngữ sơ kỳ và các tư liệu ngôn ngữ học khác trong bộ sưu tập đã cung cấp một nguồn dữ liệu quý giá để nghiên cứu sự hình thành và phát triển của tiếng Việt. Điều này có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với ngành ngôn ngữ học lịch sử mà còn đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản chữ viết dân tộc.

3. Di sản văn hóa và sự tiếp nối truyền thống

Một trong những đóng góp quan trọng của bộ sưu tập là giúp người đọc tiếp cận các tác phẩm văn học cổ điển qua những nghiên cứu có giá trị, làm sáng tỏ những tầng ý nghĩa ẩn chứa trong từng tác phẩm. Chẳng hạn, việc nghiên cứu về Truyện Kiều không chỉ dừng lại ở phân tích văn bản mà còn mở rộng sang những phương diện như thi pháp, lịch sử văn bản học, và sự tiếp nhận của độc giả qua các thời kỳ. Tương tự, những nghiên cứu về Chinh phụ ngâm hay các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm đã làm rõ những đặc trưng của văn chương nữ lưu và vai trò của phụ nữ trong đời sống văn hóa Việt Nam.

Ngoài ra, bộ sưu tập còn góp phần vào việc nhận diện và bảo tồn những giá trị ngôn ngữ, văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện đại. Những nghiên cứu về từ vựng, ngữ âm, và ngữ pháp tiếng Việt trong quá khứ không chỉ có giá trị học thuật mà còn có thể đóng góp vào công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, cũng như việc biên soạn từ điển và tư liệu ngôn ngữ.

4. Tính liên ngành và ứng dụng trong nghiên cứu hiện đại

Trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay, bộ sưu tập Tinh hoa Văn học và Ngôn ngữ Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc lưu trữ tri thức mà còn mở ra những hướng tiếp cận mới, kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu truyền thống với công nghệ hiện đại. Việc số hóa các văn bản Hán - Nôm và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý văn bản đã giúp việc tiếp cận tư liệu trở nên thuận tiện hơn, đồng thời tạo cơ sở cho những phân tích ngôn ngữ học corpus-based (dựa trên ngữ liệu lớn). Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả nghiên cứu mà còn tạo ra cơ hội kết nối giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Hơn nữa, bộ sưu tập cũng thể hiện rõ tinh thần đối thoại học thuật giữa các thế hệ nghiên cứu. Những công trình kinh điển của các học giả tiền bối được tiếp tục khai thác, đối chiếu với các phát hiện mới, từ đó góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về văn học và ngôn ngữ Việt Nam. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển di sản học thuật, đồng thời khẳng định vai trò của bộ sưu tập như một trung tâm tri thức có tầm ảnh hưởng sâu rộng.

5. Lời kết

Bộ sưu tập Tinh hoa Văn học và Ngôn ngữ Việt Nam không chỉ là một kho tư liệu quý giá mà còn là một biểu tượng của sự tiếp nối và phát triển trong nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học. Với nội dung phong phú, phương pháp tiếp cận đa dạng và khả năng ứng dụng rộng rãi, bộ sưu tập này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu và mở rộng bộ sưu tập này sẽ góp phần khẳng định vị thế của văn học và ngôn ngữ Việt Nam trong nền tri thức nhân loại, đồng thời tạo điều kiện cho sự giao lưu học thuật giữa các nền văn hóa trên thế giới.

Những con đường tiếng Hán đi vào tiếng Việt
6 tháng 5, 2025
Những con đường tiếng Hán đi vào tiếng Việt

Bởi lẽ tự nhiên là “Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông”, mà sự tiếp xúc văn hoá–ngôn ngữ giữa hai nước Việt–Trung đã diễn ra từ rất lâu đời và vô cùng sâu đậm. Từ những thế kỉ trước Công nguyên cho đến thế kỉ X là thời kì nước ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt Hán chủ yếu là thông qua “con đường khẩu ngữ”. Giới quan chức cũng như những người dân thường (đặc biệt là thương nhân) đã sang cai trị và làm ăn sinh sống ở đất Việt, và qua họ người Việt đã thu nạp vào trong tiếng nói của mình không ít những từ ngữ thông thường, mà phần nhiều vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay, như : buồng (房), buồm (帆), đuốc(烛), đũa (箸), mùa (务), múa (舞)… Từ thế kỉ X trở đi, nước ta giành được độc lập, bắt tay vào công cuộc xây nền tự chủ. Trong bước đầu gây dựng đất nước, từ thời Lý–Trần, cha ông chúng ta đã biết dựa vào văn hoá Hán và chữ Hán để đào tạo nhân tài. Trong công cuộc này, người Việt đã ít khi có dịp tiếp xúc trực tiếp với người Trung Hoa, cho nên “con đường khẩu ngữ” đã lùi dần vị thế gần như độc tôn trước đây để nhường chỗ cho “con đường sách vở”. Và đây chính là lúc cách đọc chữ Hán ở Việt Nam bắt đầu thoát li khỏi ngữ âm thực tế của tiếng Hán ở Trung Hoa, dần dần hình thành hệ thống âm Hán Việt. Cũng từ thời trung đại, tiếng Việt và tiếng Hán đều rất gần gũi nhau về mặt loại hình: đều là ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính. Với hai ngôn ngữ cùng chung loại hình, lại có cách đọc Hán Việt hoàn chỉnh như vậy, thì hàng loạt các từ ngữ tiếng Hán đi vào tiếng Việt để làm thành một lớp từ ngữ Hán Việt khá phong phú trong tiếng Việt là điều rất tự nhiên.

Như vậy, từ ngữ Hán Việt đi vào tiếng Việt là qua con đường sách vở và có lẽ chỉ những người có học mới thực sự am hiểu và thường xuyên sử dụng. Còn đại đa số người dân thất học, những người nông dân chân lấm tay bùn, thì họ chỉ có thể nắm biết được một ít những từ Hán Việt đơn tiết thông thường (như: thiên (天), địa (地), quỷ (鬼), thần(神), cúng 供, tế (祭),…), những từ Hán Việt đã Việt hoá triệt để đôi khi cả về mặt ngữ âm, được gọi là từ ngữ “Hậu Hán Việt” (như: gan (胆), gương (镜), rồng (龙), rạng (朗), vạch (划), vẽ (画), ...), những từ gốc Hán từ trước khi hình thành âm Hán Việt, được gọi là từ ngữ “Tiền Hán Việt” (như đã dẫn ở trên: buồng (房), buồm (帆), đuốc (烛), đũa (箸), mùa (务), múa (舞),…) và cả những từ đi vào tiếng Việt theo con đường khẩu ngữ từ bà con Hoa kiều ở thời hiện đại (như: vằn thắn, tào phớ, phá xang, tổ tôm, tài xế, mì chính). Chỉ từ sau Cách mạng Tháng Tám, những người nông dân mù chữ ấy mới có dịp học hành, mới có dịp tham gia vào các sinh hoạt đoàn thể, sinh hoạt xã hội, khi ấy họ mới có dịp tiếp xúc với những từ Hán Việt đánh dấu cho sự khởi đầu cuộc sống mới của họ: “Có khai hộiyêu cầuchất vấn. Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa” (như nhà thơ Hồng Nguyên đã ghi lại trong bài Nhớ). Nhờ vậy, từ Hán Việt chẳng những không bị bài trừ, mà còn có cơ phát triển thêm lên.

Trong đời sống ngôn ngữ hôm nay ở Việt Nam, dường như đã và đang có một xu hướng khác rất đáng ghi nhận. Đó là ngày càng xuất hiện nhiều hơn những từ ngữ Hán Việt tự tạo (nội sinh), tức là những từ ngữ được chính người Việt tạo ra trên cơ sở vốn liếng đã có từ cha ông để lại – những ngữ tố gốc Hán đọc với âm Hán Việt. Đó là trường hợp của những từ ngữ như: sơ tán, di tản, cư xá, tiếp viên, tiếp thị, hội nhập, hội thảo, hội chứng, lập trình, ứng viên, ứng xử, cư xá,…. Những từ ngữ như vậy, tuy có thể “phiên chuyển” thành chữ Hán như: 初散,移散,接员,接市,会入,会讨,会症,立程,应员,应处,居舍… nhưng trong một số từ điển tiếng Hán hiện đại như Từ điển Hán ngữ hiện đại (现代汉语词典), Từ điển quy phạm Hán ngữ hiện đại (现代汉语规范词典) đều không hề tìm thấy chúng. Đó chính là sản phẩm của người Việt một khi họ thực sự làm chủ cái vốn ngữ tố Hán Việt cơ bản từ lâu đã có cuộc sống riêng trong tiếng Việt. Một đôi khi chính những từ ngữ Hán Việt nội sinh này đã đẩy lùi những từ ngữ Hán Việt nguyên ngữ đã một thời vang bóng trước đây, như hội thảo đã thay thế hẳn khai hội (开会), và phần nào thay thế cho hội nghị (会议). Tuy nhiên, cũng không nên nghĩ rằng ngày nay không còn dịp để mượn từ Hán Việt “nguyên khối” từ tiếng Hán. Chẳng hạn, gần đây Bộ Giáo dục đã cho thành lập Cục Khảo thí và Kiểm tra chất lượng giáo dục, trong tên gọi đó có từ Hán Việt “nguyên khối” khảo thí(考试), chứ không phải là từ Hán Việt tự tạo thi cử.

Trong khoảng một hai chục năm gần đây, có một con đường mới hẳn đang hình thành để từ ngữ tiếng Hán đi vào sách báo tiếng Việt. Đó là “con đường dùng phiên âm” dựa theo “phiên âm tự mẫu” của tiếng Hán. “Phiên âm tự mẫu” là bộ chữ cái Latin dùng để chú âm (phổ thông) cho chữ Hán, được Chính phủ Trung Quốc công bố năm 1958. Hiện nay, bộ chữ cái này đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc cũng như trên quốc tế, khi có nhu cầu ghi âm cho các chữ Hán, đặc biệt là dùng cho nhân danh, địa danh, tên các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, bộ môn, các sản phẩm và tác phẩm v.v… Chữ Quốc ngữ của ta cũng là một thứ chữ ghi âm theo chữ cái Latin, cho nên việc tiếp nhận các từ ngữ Hán vào văn bản Việt dưới hình thức “phiên âm tự mẫu” là việc quá ư thuận lợi. Qua khảo sát bước đầu của chúng tôi trên một vài tờ báo ở Hà Nội (báo “Thể thao và Văn hoá) và Thành phố Hồ Chí Minh (báo “Thanh niên”) trên các số phát hành gần đây (tháng 2 và tháng 3/2006), xin nêu một vài thí dụ như sau:

1. “Với số dân 60.000 người, nằm cách thành phố Thượng Hải khoảng 130 km về phía bắc, làng Huaxi thuộc tỉnh Giang Tô là niềm mơ ước của nhiều người. Thứ đồ trang trí đẹp nhất, giá trị nhất cho những con đường làng ở Huaxi chính là hình ảnh những nụ cười rạng rỡ của người dân nơi đây…” (trong bài “Thiên đường” ở Trung Quốc, báo Thanh Niên, số 87, thứ ba, 28/3/2006).

2. “Người đề ra công thức này không ai khác chính là vị cựu trưởng làng Wu Renbao…” (trong bài “Thiên đường” ở Trung Quốc, báo Thanh Niên, số 87, thứ ba ngày 28/3/2006).

3. “Đối với người dân Wuli, một ngôi làng ở miền đông Trung Quốc, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước chẳng phải chỉ là chuyện trên bàn giấy…” (trong bài Làng ung thư ở Trung Quốc, báo Thanh Niên, số 80, thứ ba, ngày 21/3/2006).

4. “Tây An, thành phố lịch sử nổi tiếng thuộc tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc, hiện đang tìm kiếm vốn cho chu kì trùng tu mới tại khu lăng mộ của Hoàng đế, nhà cai trị huyền thoại của Trung Quốc, toạ lạc trên đồi Qiaoshan ở huyện Huangling…” (trong bài “Tây An tìm tài trợ trùng tu mộ Hoàng đế Tần Thuỷ Hoàng, báo Thể thao và Văn hoá, số 36, thứ bảy, ngày 25/3/2006).

5.“Giáo sư He Weifang thuộc khoa Luật của Đại học Bắc Kinh cho biết tình trạng trên xảy ra tại hầu hết các đại học danh tiếng của nước này…” (trong bài Trung Quốc: 60% tiến sĩ đạo văn, báo Thanh Niên, số 75, thứ năm, ngày 16/3/2006).

6. “Trong số các quan tham bị sa lưới có cựu giám đốc một chi nhánh của Công ti điện lực Chuanhong ở tỉnh Tứ Xuyên, …” (trong bài Trung Quốc: bắt giữ hơn 400 quan tham bỏ trốn, báo Thanh Niên, số 85, chủ nhật, ngày 26/3/2006).

7. “Được biết trong dịp Tết vừa qua, các thành viên của đoàn xiếc (gồm Wang Ji Feng, Chen Dao Mei, Jiao Shi Guo, Sun Hua Dong, Liu Jian Nan…) đã được người xem đón nhận nông nhiệt, đặc biệt là các khán giả nhí…” (trong bài Đoàn xiếc mô tô bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã “đáp” về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72, thứ hai, ngày 13/3/2006).

8. “Dạ Yến sẽ nằm trong cuộc tranh đua giành đề cử Oscar năm sau”, Wang Zhonglei, Giám đốc công ti Huayi Brothers, nơi sản xuất bộ phim, cho biết…” (trong bài Phùng Tiểu Cương hi vọng được đề cử giải Oscar năm sau với Dạ Yến, báo Thể thao và Văn hoá, số 22, thứ ba, ngày 21/2/2006).

Như vậy, chỉ lướt qua gần chục bài báo có nội dung liên quan đến Trung Quốc, thì ta đã gặp hàng chục những từ ngữ tiếng Hán dưới dạng phiên âm bằng chữ cái Latin. Điều này chứng tỏ rằng, tiếng Hán đang du nhập vào tiếng Việt một cách khá “rôm rả” qua bộ áo phiên âm. Vì sao vậy? Theo chúng tôi quan sát, thì không phải bất kì bài báo tiếng Việt nào viết về Trung Quốc cũng có “tài liệu nguồn” là tiếng Hán, tức là bản nguyên văn của chúng đã được viết bằng ngôn ngữ có chữ viết Latin, như tiếng Anh, tiếng Pháp… Nếu đã như vậy, thì dịch giả (biết hay không biết tiếng Hán) không còn cách nào khác là “bê nguyên xi” những cụm từ ngữ dạng phiên âm đó, vừa thuận tiện, lại bảo đảm được độ chính xác, trung thực của bài báo. Hay ngay cả khi “tài liệu nguồn” được viết chính bằng tiếng Hán, và người viết tin tiếng Việt (cũng là dịch giả) đương nhiên là biết tiếng Hán, thì việc xuất hiện các từ ngữ tiếng Hán dưới dạng phiên âm cũng không phải là không phổ biến. Bởi đâu phải bất kì người dịch nào cũng thông thạo cách đọc Hán Việt, để có thể ngay tức khắc, phiên chuyển những danh từ tiếng Hán ấy ra âm Hán Việt. Muốn làm được thế, họ phải mất thời gian tra cứu, mà xem ra cũng không thực sự cần thiết. Vậy thì, chi bằng cứ theo âm đọc mà phiên viết những từ ngữ Hán đó sang văn bản chữ Việt, cũng rất là thuận tiện, lại không kém phần chính xác. Nói như vậy không có nghĩa là những danh từ riêng tiếng Hán được viết theo âm Hán Việt đã hoàn toàn vắng bóng trên mặt báo. Ngược lại, chúng thường xuyên xuất hiện trên báo chí, thậm chí còn xuất hiện đồng thời, trong cùng một bài báo, với những từ ngữ tiếng Hán viết theo lối phiên âm. Chẳng hạn như:

1. “Những cảnh đấu võ và bay người trên không trung, yếu tố cơ bản đã tạo nên thành công quốc tế cho bộ phim Ngoạ hổ tàng long của đạo diễn Lý An, cũng được đạo diễn Phùng vận dụng triệt để trong Dạ Yến. Và để đạt được điều đó, ông đã phải “cậy nhờ” tới bộ ba góp phần làm nên thành công của Ngoạ hổ tàng long, gồm chuyên gia võ thuật Yuen Woo Ping, nhà soạn nhạc Tan Dun và đạo diễn nghệ thuật Tim Yip…Vai nữ chính trong phim vẫn được giao cho Chương Tử Di…” (trong bài Phùng Tiểu Cường hy vọng được đề cử Oscar năm sau với Dạ Yến, báo Thể thao và Văn hoá, số 22, thứ ba, ngày 21/2/2006).

2. “Liang Liang, nhà phê bình phim Đài Loan, thì nhận định, chiến thắng của Lý An có thể sẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều đạo diễn châu Á muốn thử vận may ở Hollywood,…” (trong bài Sau giải Oscar của Lý An, Hollywood không ưu ái hơn với các đao diễn châu Á, báo Thể thao và Văn hoá, số 29, thứ sáu, ngày 10/3/2006).

3. “Những ai muốn khám phá về các màn xiếc độc đáo của nhân vật dặc biệt Liu Jian Nan cũng như của đoàn xiếc Vương Trung Vương có thể đến Thảo Cầm Viên vào khoảng thời gian từ 17–22 giờ mỗi ngày để thưởng thức.” (trong bài Đoàn xiếc mô tô bay Vương Trung Vương (Trung Quốc) đã “đáp” về Thảo Cầm Viên Sài Gòn, báo Thanh Niên, số 72, thứ hai, ngày 13/3/2006).

Từ những thí dụ trên, ta thấy rằng, những từ ngữ tiếng Hán được phiên ra âm Hán Việt hầu như đều là những từ ngữ quá đỗi quen thuộc với độc giả Việt Nam. Chẳng hạn như: Ngoạ hổ tàng long, Lý An, Chương Tử Di,… Thượng Hải, Tây An, Thiểm Tây, Tứ Xuyên,… Khi gặp các từ ngữ này, dù là ở dạng phiên âm trong văn bản ngoài chữ Hán, thì dịch giả, với vốn âm Hán Việt nào đó đã nằm lòng, vẫn thích đưa chúng quay trở về dạng từ ngữ Hán Việt đã quen thuộc đối với người Việt Nam. Và rõ ràng, khi tiếp xúc với những từ ngữ Hán Việt này, độc giả Việt Nam sẽ thấy gần gũi hơn rất nhiều so với những từ ngữ tiếng Hán viết theo lối phiên âm tự mẫu.

Ngoài ra, có một điều cần nói thêm rằng, trong những năm gần đây, không chỉ trên mặt báo, mà còn trên truyền hình hay trong những câu chuyện đời thường của người dân Việt Nam, ta vẫn thường nhìn thấy, nghe thấy những từ ngữ tiếng Hán vô cùng quen thuộc như wushu, sanshou, hay gần đây nhất là gongfu (trong bộ phim võ hiệp nổi tiếng của Trung Quốc – Gongfu – 功夫). Đây đều là những từ ngữ tiếng Hán chỉ các bộ môn võ thuật của Trung Quốc, đó là 武术,散手,功夫. Điều đáng chú ý là trong khi sanshou và gongfu còn được nhắc đến cả dưới dạng âm Hán Việt là tán thủ và công phu, thì ta không hề thấy wushu xuất hiện dưới hình thức âm Hán Việt tương ứng với nó là võ thuật. Nhất định phải gọi môn võ này là wushu theo chữ cái phiên âm. Bởi lẽ, trong tiếng Việt, võ thuật từ lâu đã là một danh từ chung dùng để chỉ các môn phái võ nghệ, chứ không phải đặc chỉ môn phái wushu với những đặc điểm riêng của nó. Vậy là, trong trường hợp này, con đường du nhập của từ ngữ tiếng Hán theo lối phiên âm tự mẫu đã phát huy thêm một tác dụng quan trọng nữa, nó giúp ta khu biệt danh từ chỉ một môn võ cụ thể với một danh từ chỉ võ nghệ nói chung.

Như vậy là, từ ngữ tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt cho dù là bằng con đường khẩu ngữ, con đường sách vở hay là dạng phiên âm theo tự mẫu, thì từ thời xa xưa cho đến thời hiện đại cũng đều hết sức mạnh mẽ và bền bỉ. Cùng với sự trôi đi của thời gian, khi mà tình trạng cộng cư của người Hoa và người Việt không còn vị thế nổi bật trong sinh hoạt kinh tế thời hiện đại, khi mà tầng lớp nho sĩ am hiểu âm Hán Việt thưa thớt dần, thì sự du nhập của từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt theo con đường khẩu ngữ hoặc con đường phiên âm Hán Việt sẽ không còn đậm nét như trong quá khứ nữa. Bù lại, xu hướng sử dụng ngữ tố Hán Việt để tạo từ mới ngày càng được hưởng ứng, và một con đường mới mẻ cho sự du nhập từ ngữ tiếng Hán vào tiếng Việt – con đường dùng “phiên âm tự mẫu” đang hình thành. Trên con đường mới mẻ này, số phận của các từ ngữ Hán phiên âm trong văn bản Việt sẽ ra sao? Chắc chắn chúng sẽ vấp phải không ít khó khăn để được tiếp nhận, song triển vọng của chúng cũng khá rõ ràng, vì sự tiện lợi và cần thiết của chúng ở những tình cảnh nhất định là không thể phủ nhận.

Tài liệu tham khảo

1. Lý Hành Kiện (chủ biên). Xiandai Hanyu Guifan Cidian (现代汉语规范词典). Nxb Ngoại ngữ Giáo học dữ Nghiên cứu & Nxb Ngoại văn, Bắc Kinh, 2004.

2. Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (tái bản có sửa chữa). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

3. Nguyễn Quang Hồng. Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (tái bản). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

4. Nguyễn Quang Hồng. Giữ gìn và phát triển tiếng Việt, ngôn ngữ chung của các dân tộc Việt Nam. Tạp chí “Ngôn ngữ & Đời sống”, số 1+2/2004.

5. Phòng Từ điển Viện Ngôn ngữ học Trung Quốc biên soạn (tu đính bản). Xiandai Hanyu Cidian (现代汉语词典). Nhà in Thương Vụ, Bắc Kinh, 1999.

Theo Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5/2006, trang 34-37.

Research Talk – Một Nghiên cứu Mới về các Từ Hán Việt Việt hóa của GS.TS.  Vũ Đức Nghiệu
4 tháng 6, 2025
Research Talk – Một Nghiên cứu Mới về các Từ Hán Việt Việt hóa của GS.TS. Vũ Đức Nghiệu

Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN trân trọng kính mời quý thầy cô, nghiên cứu sinh, học viên và sinh viên tham dự buổi Research Talk với chủ đề: "Một nghiên cứu mới về các từ Hán Việt Việt hóa",
do GS.TS. Vũ Đức Nghiệu – một trong những học giả hàng đầu trong lĩnh vực ngôn ngữ học lịch sử Việt Nam – trình bày.

Buổi nói chuyện sẽ tập trung trình bày những phát hiện mới của Giáo sư về hiện tượng từ Hán Việt Việt hóa, tức là quá trình các từ gốc Hán khi đi vào tiếng Việt không chỉ giữ lại yếu tố ngữ âm mà còn mang những biến đổi về ý nghĩa, cách sử dụng và ngữ pháp sao cho phù hợp với hệ thống tiếng Việt bản địa. Nghiên cứu này góp phần làm rõ quá trình bản địa hóa ngôn ngữ Hán trong dòng chảy phát triển của tiếng Việt, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học, văn hóa học và Hán Nôm học.

📅 Thời gian: 14h00, thứ Tư, ngày 04/06/2025
📍 Địa điểm: Phòng 307 nhà E, Trường Đại học KHXH&NV,
336 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

GS.TS. Vũ Đức Nghiệu là nhà nghiên cứu uy tín trong lĩnh vực Việt ngữ học ở Việt Nam. Ông từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo tại Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN và có nhiều công trình khoa học quan trọng xoay quanh sự tiếp biến ngôn ngữ, đặc biệt là ảnh hưởng của tiếng Hán đến tiếng Việt trong lịch sử. Trong suốt quá trình học thuật, GS.TS. Vũ Đức Nghiệu đã không ngừng theo đuổi các chủ đề liên quan đến từ Hán Việt, ngữ liệu chữ Hán – Nôm và ngữ văn trung đại, đóng góp đáng kể vào việc lý giải bản chất của sự Việt hóa trong ngôn ngữ, đặc biệt ở cấp độ từ vựng.

Hai Mùa thu của Tiếng Việt: Tưởng nhớ GS. Cao Xuân Hạo và GS. Nguyễn Quang Hồng
10 tháng 11, 2025
Hai Mùa thu của Tiếng Việt: Tưởng nhớ GS. Cao Xuân Hạo và GS. Nguyễn Quang Hồng

Vào ngày giữa thu năm Ất Tỵ, mồng 7 tháng 10 năm 2025, nhà ngôn ngữ học GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng đã rời cõi tạm, để lại trong lòng của giới học nhân một nỗi tiếc nhớ vô hạn. Nhớ lại năm 2007, cũng vào những ngày thu này, ngày 16 tháng 10, giáo sư ngôn ngữ học kỳ cựu Cao Xuân Hạo cũng ra đi trong sự thương tiếc của biết bao bạn bè, học trò, đồng nghiệp. Hai học giả ngôn ngữ lớn của nền khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam – Cao Xuân Hạo và Nguyễn Quang Hồng – đều chọn những ngày thu của nhân gian để khép lại hành trình trần thế. Như một cách gì rất lặng mà rất hữu duyên, mùa thu đã trở thành mùa tiễn đưa hai bậc trí giả hàng đầu của ngành ngôn ngữ học Việt Nam hiện đại. Để tưởng nhớ họ, bài viết này xin điểm lại những hồi ức mà giáo sư Nguyễn Quang Hồng đã ghi lại vào tháng 10 năm 2007, khi ông tưởng niệm người anh, người đồng nghiệp và người thầy tinh thần của mình: Giáo sư Cao Xuân Hạo.

Trong bài viết năm ấy, giáo sư Nguyễn Quang Hồng kể rằng ông hay tin giáo sư Cao Xuân Hạo đã ra đi qua cuộc điện thoại từ một đồng nghiệp trẻ. Dù biết bệnh tình của giáo sư Cao Xuân Hạo  đã nặng, ông vẫn nghẹn ngào khi nhận ra từ nay sẽ không còn được trò chuyện cùng người Anh học thuật nữa. Ký ức đưa ông trở lại năm 1965, khi vừa từ Đại học Bắc Kinh trở về, ông may mắn được gặp Cao Xuân Hạo, lúc ấy đã có tên tuổi trong giới nghiên cứu. Giáo sư Hạo dành trọn một buổi chiều mùa thu để giảng cho người đồng nghiệp trẻ tuổi Nguyễn Quang Hồng lý thuyết âm tiết tiếng Việt. Buổi gặp ấy khiến giáo sư Nguyễn Quang Hồng nhận ra rằng, người đàn anh trong học giới, giáo sư Cao Xuân Hạo, đang tìm một con đường mới để hiểu tiếng Việt từ chính bản chất của nó.

Theo giáo sư Cao Xuân Hạo, âm tiết tiếng Việt là một chỉnh thể, không thể “cắt khúc” thành âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối như các mô hình ngôn ngữ châu Âu. Ông gọi đó là “lý thuyết phi đoạn tính” , coi toàn bộ âm tiết là một đơn vị ngữ âm – ngữ nghĩa – chức năng thống nhất. Quan điểm này, trình bày trong công trình Phonologie et Linéarité (Âm vị học và tuyến tính, 1985), được nhiều học giả quốc tế đánh giá cao. Một số nhà ngữ học Pháp cho rằng nếu người bản ngữ của các ngôn ngữ đơn âm tiết xây dựng âm vị học, họ hẳn sẽ chọn “âm tiết” chứ không phải “âm vị” làm đơn vị cơ bản. Từ Việt Nam, Cao Xuân Hạo đã cất lên một tiếng nói độc lập, thách thức khuynh hướng “dĩ Âu vi trung” trong ngôn ngữ học thế giới.

Không dừng ở lĩnh vực ngữ âm, nhà ngôn ngữ học  Cao Xuân Hạo  tiếp tục mở rộng sang mảng ngữ pháp tiếng Việt. Thay vì mô hình “Chủ – Vị” kiểu Âu, ông đề xuất cấu trúc “Đề – Thuyết”, phản ánh đúng tư duy câu tiếng Việt – nơi phần đầu nêu đề tài, phần sau triển khai nội dung liên quan. Công trình Tiếng Việt. Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) đã tạo nên một luồng gió mới trong học giới, giúp nhìn tiếng Việt như một hệ thống tự thân, chứ không là bản sao méo mó của tiếng phương Tây.

Trong hồi ức của giáo sư Nguyễn Quang Hồng, giáo sư Cao Xuân Hạo không chỉ là một nhà lí luận ngôn ngữ học khắt khe mà còn là một trí thức nhân văn rộng mở. Ông là người có vốn tri thức vượt khỏi phạm vi chuyên ngành hẹp: thạo tiếng Nga đến mức khiến cả người Nga kính nể, thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latinh, am hiểu lịch sử tiếng Hán và chữ Hán, và dịch văn học với một thứ tiếng Việt vừa chính xác vừa óng ả. Ông cũng là một người viết báo đầy duyên mỉa mai, sắc sảo mà không cay độc, hài hước mà không dễ dãi. Nhiều bài viết phổ thông của ông – về tiếng Việt, về văn hóa ngôn ngữ, về “văn Việt, người Việt” – sau này được tập hợp lại trong các cuốn như Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt, giúp công chúng ngoài giới chuyên môn cảm nhận tiếng Việt không chỉ như một công cụ giao tiếp, mà như một di sản tinh thần cần được bảo vệ.

Khép lại bài tưởng niệm vào mùa thu năm 2007, giáo sư Nguyễn Quang Hồng viết rằng, giáo sư Cao Xuân Hạo đã ra đi thanh thản, để lại một gia tài vô giá cho tiếng Việt. Giờ đây, khi chính ông cũng đã rời cõi tạm, lời ấy như vang vọng trở lại, như một lời tiễn biệt kép dành cho hai trí tuệ lớn đã dành trọn đời cho việc khẳng định phẩm giá và bản thể của tiếng Việt: một ngôn ngữ không cần soi chiếu qua khuôn mẫu nào khác, bởi nó đã đủ trọn vẹn và tự do trong chính mình.

Đọc Hoài niệm về Anh Cao Xuân Hạo của Nguyễn Quang Hồng: https://ngonngu.net/nqhong_hoainiemvecaoxuanhao/354

Đọc Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt của Cao Xuân Hạo trên nền tảng Digitizing Việt Nam:

https://www.digitizingvietnam.com/en/our-collections/tinh-hoa-van-hoc-va-ngon-ngu-viet-nam/tieng-viet-van-viet-nguoi-viet