Truyện Kiều, bản 1866
Trang bị thiếu
Trang 114 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Rằng: "Tôi đã có lòng chờ,
Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
Chị sao phận mỏng đức dày?
Kiếp này đã vậy, lòng này dễ ai !
Tấm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân
Một mình vì nước vì dân.
Dương công cất một đồng cân đã già!
Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải nghênh mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về sau,
Duyên xưa đầy đặn, phúc lâu dồi dào!
Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
"Trạc Tuyền!" nghe tiếng gọi vào bên tai.
Giật mình thoắt tỉnh giấc mai ,
Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn.
Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên?
Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng .
Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
Quốc ngữChú thích
lòng này dễ aiLòng này dễ ai: tấm lòng hiếu thảo dễ mấy ai bằng.
Tấm thànhTấm thành: tấm lòng thành.
Đoạn trường thơĐoạn trường thơ: nói đến mười bài thơ của Thuý Kiều làm đưa Đạm Tiên khi trước.
hưởng thụHưởng thụ: hưởng nhận được nhiều phúc trạch.
giấc maiGiấc mai: giấc ngủ say sưa; do tích Triệu Sư Hùng đời Tuỳ vào núi gặp người con gái bán hàng rượu cho uông say rồi nằm ngủ thiếp đi, đến lúc tỉnh dậy chỉ thấy mình nằm ở dưới gốc cây mai to.
thảo lưThảo lư: nhà cỏ, nhà tranh, cũng như thảo đường.
chay lòngChay lòng: ý nói trong lòng không bợn một chút bụi trần, xa hẳn thế tục, trong sạch hẳn tấm lòng.
Triều dângTriều dâng: nước thuỷ triều lên.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.