Truyện Kiều, bản 1866
Trang bị thiếu
Trang 44 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Trước sau Ngưng bích khoá xuân,
Vết non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya ,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng .
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng ,
Tin sương luống hãy rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai ,
Quạt nồng đắp lạnh những ai đó giờ?
Bồng Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Buồn trông cửa bể gần hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh ,
OM thòm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu .
Quốc ngữChú thích
Ngưng bíchNgưng Bích: (*ngưng*: đọng lại, *bích*: màu xanh), tên cái lầu, nơi đây bốn chung quanh đều có màu xanh của non nước, cây cỏ. Bản LVĐ 71 chép là *Trước sau*.
bát ngátBát ngát: bao la không biết đến đâu là cùng (Việt Nam tự điển. K.T.T.Đ). Theo Đ.N.Q.Â.T.V. của Huỳnh Tịnh Của thì *bát ngát* có nghĩa là áy náy, lo xa, lo buồn nhiều nỗi. Nghĩa này cũng hợp với câu thơ của Nguyễn Du.
Bẽ bàngBẽ bàng: đỗi với cảnh, đối với tình lấy làm ngượng ngùng hổ thẹn.
mây sớm đèn khuyaMây sớm đèn khuya: ý nói Thuý Kiều ở có một mình ở lầu Ngưng Bích, sáng thì làm bạn với mây, tối thì làm bạn với ngọn đèn cho đến tận khuya.
tấm lòngTấm lòng: tấm lòng buồn rầu, nỗi sầu.
người dưới nguyệt chén đồngNgười dưới nguyệt chén đồng: (chén đồng: chén rượu uống cùng thề đồng tâm với nhau) chỉ Kim Trọng.
Tin sươngCho chữ “sương tín”. Khi sương xuống nhiều là báo tin mùa đông đã đến nên gọi là “tin sương”. Cũng như “tin nhạn” vì chim nhạn hễ thấy mùa sương đến là bay về phương nam.
Tấm sonTấm son: tấm lòng son, tấm lòng son sắt của Thuý Kiều đối với Kim Trọng.
người tựa cửa hôm maiNgười tựa cửa hôm mai: chỉ người mẹ thường tựa cửa trông con. Đây nói Thuý Kiều thương xót cha mẹ ở nhà chắc vẫn trông mong tin tức của mình.
gốc tửGốc tử: cây tử. Chữ lấy trong Kinh Thi, bài *Tiểu bàn (Tiểu nhã)*: Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ = chỉ có cây dâu và cây tử do cha mẹ trồng là ta ắt phải cung kính. Theo điển này về sau người ta dùng chữ *gốc tử để chỉ quê hương*.
duềnhDuềnh: vùng biển ăn sâu vào đất liền.
lưu lạcLưu lạc: lang thang nay đây mai đó.
nên vài bốn câuNên vài bốn câu: theo nguyên truyện thì Thuý Kiều có làm một bài thơ Đường luật, thất ngôn bát cú.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.