Truyện Kiều, bản 1866
Truyện Kiều, bản 1866
Trang 83 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Nữa khi giông tố phũ phàng,
Thiệt riêng đấy, cũng lại càng cực đây.
Liệu mà cao chạy xa bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non ?
Dẫu rằng sông cạn đá mòn ,
Con tằm đến chết cũng còn kéo tơ."
Cùng nhau kể lể sau xưa ,
Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời.
Mặt trông tay chẳng nỡ rời,
Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa.
Nhận ngừng nói [tủi] đứng ra,
Tiểu thư đâu đã lánh hoa bước vào.
Cười cười nói nói ngọt ngào ,
Hỏi: "Chàng mới ở chốn nào lại chơi?"
Dối quanh sinh mới liệu lời:
"Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh."
Khen rằng: " Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp hương đình nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thực cũng nên mua lấy tài!
Thuyền trà cạn nước hồng mai,
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
Quốc ngữChú thích
nối lời nước nonnối được lời thề trăm năm chung sống với nhau.
sông cạn đá mòný nói trải qua thời gian lâu dài, đã có nhiều biến đổi.
Con tằm đến chết cũng còn kéo tơnên đọc là “Con tằm đến thác cũng còn vương tơ”. Cả câu ý nói lòng Thúc sinh không bao giờ quên được Thuý Kiều dù có xa cách cũng vẫn còn vương vấn.
sau xưatrước sau mọi chuyện.
Hoa tìngười hầu gái ở các nhà quyền quí xưa, cũng gọi là hoa nô.
Nhận ngừngnén chặn sự cảm động và ngừng ngay sự tâm tình, làm ra vẻ tự nhiên. Vì chữ nhận ngừng hơi khó hiểu và không được thông dụng nên bản Hồ Đắc Hàm đã chép là “Ngại ngần nuốt tủi lảng ra” và hai bản Bùi Khánh Diễn - Tản Đà đã chép là: “Ngập ngừng nuốt tủi lảng ra”.
ngọt ngàonói êm dịu như không, vẫn vui vẻ tươi cười làm như không có chuyện gì.
Bút phápphép viết, lối viết chữ nho.
thiếp hương đìnhnên đọc là “thiếp Lan đình”. Vương Hy Chi, người đời Tấn, nổi danh về chữ tốt hơn là về văn thơ nên các sách văn học sử không chép tên ông và ông cũng chỉ lưu truyền có mỗi một bài “Lan đình tập tự” (Lan đình là tên một cái đình bên sông Lan Chữ xưa Vương Hy Chi và mấy người bạn hay ngâm thơ ở đó). Bài tự tập thơ Lan đình này ông làm rồi viết ra thiếp, văn đã hay, chữ lại đẹp, người ta gọi là thiếp Lan đình. Cả câu ý nói: chữ Thuý Kiều chép kinh rất đẹp nếu đem so với chữ của Vương Hy Chi trong thiếp Lan đình thì cũng không thua kém gì. Bản LVĐ 66 và 71 chép là “Thiếp Hương đình”.
lưu lạc giang hồý nói bị xa lìa quê hương lang thang khắp nơi.
Thuyền trànên đọc là “thiền trà”. (“Thiền”: 禪 hoặc thuyền chỉ nhà chùa) chén trà của nhà chùa. Bản TVK-BK-TTK đều viết “thuyền” như ở các câu: 1933. Nâu sồng từ trở màu thuyền 2061. Cửa thuyền vừa cữ cuối năm. Bản LVĐ-DMT viết là 船 (thuyền = cái thuyền) chữ cốt ghi âm. Chữ “thiền” nguyên gốc không phải là chữ Hán mà chỉ là chữ phạn Dhyana tức là “thiền na” sau rút gọn lại là “thiền”. Có nghĩa là Phật gia, Phật tự, tăng già, thiền, thiền định.
thư traiphòng đọc sách, cũng như viện sách.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.