Truyện Kiều, bản 1866
Truyện Kiều, bản 1866
Trang 86 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Gạn gùng ngành ngọn cho tường,
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
" Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Qui sư, qui Phật, tu hành bấy lâu.
Bản sư rồi cũng đến sau,
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh ."
Rày vâng diện hiến rành rành,
Chuông vàng, khánh bạc bên mình giở ra.
Xem qua sư mới dạy qua:
"Phải ni Hằng Thuỷ là ta hậu tình.
Chỉn e đường sá một mình,
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày."
Gửi thân được trốn am mây ,
Thái dưa đắp đổi, tháng ngày thong dong,
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.
Sớm khuya ra mái , phướn mây ,
Ngọn đèn khêu nguyệt , tiếng chày nặng sương .
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Cửa thiền vừa đã cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
Gió quang mây tạnh thảnh thơi,
Có người đàn việt lên chơi cửa già.
Quốc ngữChú thích
Tiểu thiềnnhững người mới đi tu ở chùa gọi là tiểu, Thuý Kiều còn trẻ nên tự xưng như vậy.
Bản sưsư thầy của mình.
pháp bảođây chỉ các đồ thờ tức chuông vàng và khánh bạc mà Thuý Kiều đã lấy ở Quan Âm các.
sư huynhThuý Kiều gọi ni Giác Duyên là sư huynh để tỏ ý tôn kính, coi như hơn cả sư thầy của mình.
diện hiếnđem dâng ngay lên trước mặt.
ni Hằng Thuỷthực ra Thúy Kiều làm gì có sư thầy nào đâu. Khi vào gặp ni sư Giác Duyên, thấy ni sư nói có quen sư huynh Hằng Thuỷ ở tỉnh Trấn Giang thì nhận liều ngay là phải. Như vậy chữ 尼 phiên âm là “ni” thì đúng hơn là “nơi”.
am mâychỗ tu hành của các nhà sư thường ở chỗ núi cao có mây phủ nên gọi là “am mây”.
Kệ kinh(“kệ”: câu kệ, câu chú, các bài thơ của nhà Phật cũng gọi là kệ) nói chung về kinh của đạo Phật tức những sách chép giáo lý của đức Phật.
trai phòngphòng tăng hoặc ni ở, phòng chay.
ra máinên đọc là “lá bối”. Lá cây bối đa xưa dùng để chép kinh Phật; đây chỉ kinh Phật.
phướn mâythứ cờ của nhà Phật có bức vóc hay lụa nhiều màu rủ xuống, cũng gọi là “trướng phan”. Vì lá phướn rất dài nên cột phướn phải cao và khi lá phướn gặp gió bay cao ta trông cảm tưởng như lá phướn rợp mây. Ca dao có câu: Chùa Tàu mở hội bên Ngô, cớ sao bóng phướn sang chùa An Nam.
Ngọn đèn khêu nguyệtý nói khêu bấc ở ngọn đèn cho sáng thêm để được tỏ như ánh trăng.
tiếng chày nặng sươngý nói đánh chuông lúc trời còn sớm như lay động cả màn sương. Cả câu ý nói thức khuya và dậy sớm để lo công việc trong chùa như đèn hương và tụng kinh.
thông tuệthông minh sáng trí.
Cửa thiềncửa chùa.
đàn việtphiên âm của tiếng Phạn Dânapati có nghĩa là thí chủ tức những vị có hằng tâm hằng sản hay cúng dường cho chùa.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.