| Quốc ngữ | Chú thích |
|---|---|
| mặt thù | Thôi thôi ta đã mắc tay “ai rồi” (LVĐ)<br> “Sợ quen dám hở ra lời” (LVĐ)<br> “Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa” (LVĐ) |
| trắc [khởi/dĩ] | 陟 屺 Hai chữ này các bản quốc ngữ thường chép là “trắc dĩ” nhưng không đúng với cách đọc trong Kinh Thi đã ghi chú âm là “khởi” (khỉ). Trương Vĩnh Ký, Hồ Đắc Hàm, Ưng Dự đã phiên âm là “trắc tỵ”. Đào Duy Anh trong “Hán Việt từ điển” đã phiên âm là “trắc tỵ” nhưng trong “Từ điển Truyện Kiều” lại phiên âm là “trắc Dĩ” và đã giảng: “Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề” là trèo lên núi Dĩ kia a, trông ngóng mẹ a. Đào Duy Anh đã viết hoa chữ “Dĩ” coi là tên núi. Điều này không đúng vì bài “Trắc hỗ” trong Kinh Thi (Nguỵ phong 4) có ba đoạn: Đoạn I có hai câu: “Trắc bỉ “hỗ” hề, chiêm vọng phụ hề... ” (Ta leo lên “núi có cây” để ngóng trông cha) Đoạn II có hai câu: “Trắc bỉ “khởi” (khỉ) hề, chiêm vọng mẫu hề...” (Ta leo lên “núi trọc” để ngóng trông mẹ... ) Đoạn III có hai câu: “Trắc bỉ “cương” hề, chiêm huynh hề... ” (Ta leo lên “sống núi” kia để ngóng trông anh... ). Như vậy: “Trắc hỗ” được dùng để chỉ người con nhớ cha. “Trắc khởi” được dùng để chỉ người con nhớ mẹ. “Trắc cương” để chỉ người em nhớ anh. |