Truyện Kiều, bản 1870
Truyện Kiều, bản 1870
Trang 203 / 233
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Biết bao công mướn của thuê,
Lâm Truy mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi, hỏi một nơi.
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
Sinh càng thảm thiết khát khao,
Như nung gan sắt, như bào lòng son.
Ruột tằm ngày một héo don ,
Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.
Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê.
Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao!
Thung huyên lo sợ xiết bao.
Quá ra khi đến thế nào mà hay!
Vội vàng sắm lễ chọn ngày.
Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng.
Quốc ngữChú thích
của thuêBiết bao công mướn “công” thuê (LVĐ)
Lâm TruyLâm “Thanh” mấy độ đi về dặm khơi (KOM)<br>Bản LVĐ cũng khắc sai là “Lâm Truy”.<br>Các bản LNP, LVĐ và DMT đều chép là “Lâm Truy”. Các bản T.H.Ư, KOM và QVĐ đều chép là “Lâm Thanh”, như vậy thì đúng hơn vì khi mua Thuý Kiều, Mã Giám sinh khai là quê mình ở Lâm Thanh.
donRuột tằm ngày một héo “hon” (KOM)<br>Chữ 𤶐 gồm bộ “nạch” 疒 và chữ tồn 存 có thể đọc là “dồn”, “dòn” và “don”.<br>Nguyễn Văn Tố đã phiên âm câu 139 là “Tuyết in sắc ngựa câu dồn”. Các bản quốc ngữ thường phiên âm là “giòn”, “dòn” (đẹp). Ở câu này vì phải đọc theo đoản thanh nên chữ 𤶐 được phiên âm là “don”. Tự điển của Taberd và Huỳnh Tịnh Của có ghi “héo don” là khô héo, gầy mòn (vì phiền muộn).
Thung huyên“Xuân” huyên lo sợ xiết bao (LVĐ)<br>Bản LNP viết là 樁 萱 (thung huyên). Đúng ra phải viết là “xuân huyên” 樁 萱 như các bản nôm khác (LVĐ, QVĐ, T.H.Ư, KOM... )
sắm lễVội vàng sắm “sửa” chọn ngày (LVĐ)
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1870
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Image, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1870
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.