Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Chốc LÀ mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã
da MỒI TÓC sương
MỒI khắc không chuẩn. TÓC cũng khắc không chuẩn.
.
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dầu lìa TƠ CHỈ còn vương tơ lòng.
Duyên em dầu nối TƠ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
Tấc
NIỀM
TẤC LÒNG ở cả 4 bản A, B, C, D (tuy ở C phải đoán, vì khắc thiếu nét). Riêng bản này khắc TẤC NIỀM.
cố quốc tha hương.
Đường kia nỗi nọ
NGỔN
Chữ NGỔN khắc không chuẩn.
ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Đêm ngày luống những âm thầm,
Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương.
Ngất trời sát khí mơ màng,
Đầy sông kình ngạc chật đường giáp binh.
Người quen thuộc kẻ
CHUNG
Chữ CHUNG khắc lối giản hóa, trông như chữ ĐÔNG.
quanh,
RỦ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
Nàng rằng: "Trước đã hẹn lời,
“Dẫu trong nguy hiểm dám
RỜI
Cũng một hiện tượng như trên:
- Phải đọc RỜI ở ba bản 1871, 1872, 1879 vì thanh phù LAI;
- Phải đọc DỜI ở bản B 1902, vì thanh phù DỊ
Bản A in theo DỜI.
ước xưa!”
Còn đang
DÙI
Bốn bản A, B, C, D đều DÙNG DẮNG (một biến thể của DÙNG DẮNG). Riêng bản này khắc DÙI DẮNG với nghĩa là “kéo dài, chậm chạp” (HTC: “diên dẫn, trễ tràng”).
dắng ngẩn ngơ,
Mé ngoài đã thấy
NGỌN
Cũng riêng bản này khắc NGỌN CỜ; ở các bản A, B, C, D đều nhất trí in là BÓNG CỜ.
cờ tiếng la.