| Quốc ngữ | Chú thích |
|---|---|
| Đồng THANH cùng GỞI | Ba dị bản, nhưng có dị bản lạ:<br> - Dễ hiểu nhất là ĐỒNG THANH CÙNG GỞI ở A và B;<br> - Cũng vậy là dị bản ở C: ĐỒNG THANH CÙNG HỎI;<br> - Ở bản D chúng tôi chưa rõ là ĐỒNG THANH CŨNG DẠ hay ĐỒNG THANH CŨNG HẢ (như trong HỂ HẢ);<br> - Riêng ở bản này khắc 4 chữ thật dáng ngạc nhiên, cần phải cân nhắc thật nhiều mặt:<br> a) Hai chữ đầu tiên là hai chữ ĐỒNG TIỀN (TIỀN như ở TIỀN BẠC); Chữ thứ 3 là CŨNG hay CÙNG; chữ thứ tư là một chữ ở tiếng Hán không có và hiện cũng khó biết đọc Nôm là gì).<br> b) Rất có khả năng có một lỗi in ấn quá bất thường.<br> c) Nhưng chúng tôi vẫn xét xem có thể có một cách hiểu nào không?<br> - TIỀN có thể cho là chữ TIỀN với nghĩa “ở trước”, nghi theo lối đồng âm.<br> - ĐỒNG có thể là chữ dùng để chỉ một đặc điểm nơi nhà Thúy Kiều ở (ví dụ ĐỒNG là “cây ngô đồng”, ĐỒNG là “núi trọc không cây cỏ” v.v... ) hoặc để chỉ không khí lúc bấy giờ (ví dụ ĐỒNG là tiếng trống ầm ĩ, ĐỒNG/ĐÒNG là “giáo mác, binh khí”. Vậy có thể chọn một trong mấy cách tạm hiểu:<br> <br> ĐỒNG TIỀN: = trước cây ngô đồng <br> = trước mái núi trọc<br> ĐỒNG TIỀN: = trước tiếng trống ầm ĩ<br> = trước giáo mác binh khí la liệt.<br> - Chữ thứ tư có bộ TRUY (hoặc VĂN) còn lại là thanh phù TỘỊ Theo kinh nghiệm T có thể đọc thành T hoặc X, CH, D: Vậy có thể tạm chấp nhận được từ DÓI MÀ HTC định nghĩa là “kêu” hoặc từ DỘI mà nội dung là nêu bật sự vang vọng của âm thanh.<br> Như vậy, cũng còn khă năng có thể hiểu tạm như sau: ĐỒNG TIỀN CÙNG DỘI/DÓI: NÀO LÀ PHU NHÂN? (= trước tiếng trống ầm ĩ, cùng vang lên/cùng gọi: phu nhân ở đâủ) |
| RÕ RÀNG | Theo mặt chữ thì phải đọc RÕ RÀNG. Chữ RÀNG khắc cũng không chuẩn. RỠ RÀNG ở A, B; RÕ RÀNG ở 3 bản Nôm cổ. Ở câu 2273 CÂN ĐAI khắc nhầm thành ĐAI CÂN, mất vần. |