Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 142 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Nỗi thương nói chẳng hết lời,
Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra.
Vội về sửa chốn vườn hoa,
Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang.
Thần hôn chăm chút lễ thường,
Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa.
Đinh ninh mài lệ chép THƠ,
Cắt người tìm TÕI đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công mượn của thuê,
Lâm tri mấy độ đi về dặm khơi.
Người một nơi hỏi một nơi,
Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
Sinh càng thảm thiết khát khao,
Như nung gan sắt như bào lòng son.
Ruột tằm ngày một héo DON .
Tuyết sương ngày một hao MÒN hình ve.
Thẩn THƠ lúc tỉnh lúc mê,
Máu theo nước mắt HỒN lìa chiêm bao.
Xuân huyên lo sợ xiết bao,
Quá ra khi đến thế nào mà hay!
Quốc ngữChú thích
THƠHai bản A và B đều CHÉP THƯ. Bản C, bản D và bản này thì đều nhất trí khắc là CHÉP THƠ.
TÕIBản 1875, bản 1884 cũng TÌM TÕI như bản A. Hay là DÕI, vì thanh phù là ĐỘI? Hay dị bản ở câu 2828: LÂM THANH ở A, B: LÂM TRI ở C, D và bản này.
DONĐúng là HÉO HON đọc nghe rất hợp, nhưng căn cứ mặt chữ thì không phải HON! Đây là chữ DÒN có ghi ở trong từ điển Nôm. Dạng cổ của DÒN là DON (còn dùng ở vùng Nghệ Tĩnh) và CHON (còn dùng ở vùng Bình Trị Thiên). Trong từ điển HTC lại cho cứ liệu cuối thế kỉ 19: HÉO DON = “khô héo, gầy mòn”. Vậy phải đọc như ở HTC.
MÒNChữ MÒN khắc không chuẩn, trông gần như chữ BỆNH!
THƠChữ THƠ khắc cũng không chuẩn.
HỒNChữ HỒN cũng vậy.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.