Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 154 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Một ĐOÀN về đến quan nha,
Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy.
Tàng tàng chén cúc dở say,
Đứng lên Vân mới giãi bày một hai.
Rằng: "Trong tác hợp cơ trời,
“Hai bên GẶP GỠ một lời kết giao.
GẶP cơn bình địa BA đào,
VẬY đem duyên chị RƯỚC vào cho em.
"Cũng là phận cải duyên kim,
"Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao?
"Những là rày ước mai ao,
Mười NĂM năm ấy biết bao nhiêu tình!
"Bây giờ gương vỡ lại lành,
"Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi.
"Còn duyên may lại còn người,
"Còn vừng trăng bạc còn lời nguyền xưa.
“Quả mai ba bảy KHI vừa,
"Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì."
Dứt lời nàng vội GẠT đi:
“Sự muôn NĂM cũ kể chi bây giờ?
Quốc ngữChú thích
ĐOÀNRiêng bản A in MỘT NHÀ; các bản Nôm B, C, D cũng như bản này đều khắc MỘT ĐOÀN.
GẶP GỠỞ hai chữ GẶP GỠ riêng bản này lại thêm bộ KHẨU! Phải chăng là để chuẩn bị cho 4 chữ MỘT LỜI KẾT GIAO ở sau? Liên tưởng?
GẶPChữ GẶP khắc theo lối miền Nam thành HẤP; chữ BA khắc thành BỂ!
VẬYTrong câu này có 2 chỗ khác nhau giữa các văn bản:<br>  - Ở ba bản A, C, D đều mở đầu bằng VẬY. Chắc ở bản này cũng thế nhưng khắc sai! Riêng bản B mở đầu bàng chữ PHẢI.<br>  - Ở chữ thứ 5, các bản A, B, C, D đều dùng chữ BUỘC, riêng bản này dùng chữ RƯỚC.<br>  Cũng cần nghĩ đến khả năng dùng chữ CÀN/CAN đọc GÁN, nhưng khắc ngược hai bên trái, phải mà thành RƯỚC. Chữ CHIỀU (câu 1822) cũng đã từng bị khắc ngược như vậy. Nói đến thanh phù CÀN/CAN là dựa theo Tự điển TVK. Ngoài ra còn có thể nghĩ đến chữ CẢN (mà HVTĐ đọc là HÃN). Chữ này cũng có thể phiên Nôm là GÁN, đồng thời cũng dễ chuyển nhầm thành chữ RƯỚC.
Mười NĂM nămLại MƯỜI NĂM NĂM chứ không phải MƯỜI LĂM NĂM như ở các bản khác. Ở câu 3072: nên đọc LINH hơn hay đọc THIÊNG hơn?
KHIHai bản A, B in muộn hơn thì đều ĐANG VỪA; nhưng ở các bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879 ta lại đều thấy khắc KHI VỪA. Không những thế, ở các bản TVKI, A des Michels, CMTrinh cũng đều in KHI VỪA. Chắc đây là cách dùng chữ bắt nguồn từ lối nói “Có khi... cũng nên”, một lối nói nửa phỏng đoán, nửa thăm dò, chưa khẳng định.
GẠTỞ bản A: GẠT ĐI; ở bản này và hai bản B, C khắc: BẠT ĐI với nghĩa cũng là “gạt đi”. Chứng cớ là trong từ điển HTC “gạt lệ” còn in là “bạt lụy”. Riêng ở bản D có chữ khắc quá mờ, nhưng chúng tôi đoán là ÁT ĐI, với nghĩa là “ngăn đi” (Xin xem HTC: ÁT ĐI = “cấm ngăn, chận dứt”).
NĂMNĂM ghi bằng chữ chỉ con số 5.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.