Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Ví bằng thú thật cùng ta,
Cũng dung kẻ dưới mới là ĐƯỜNG trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà
CHÁC
Hai bản A, D in RƯỚC; hai bản B, C in CHÁC; bản này cũng CHÁC nhưng dùng cách ghi Nôm khác ở B, C.
tiếng ghen vào mình?
Lại còn bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!
Tính rằng cách mặt khuất lời,
Giấu ta ta cũng
liệu bài GIẤU cho
LIỆU BÀI GIẤU CHO ở cả A, B, C, D. Ở bản này GIẤU khắc thành XÚ/XẤU; do đó có 2 khả năng đọc: Đọc kiểu Hán BÀI XÚ (= xua đuổi cái xấu, kiểu như ở BÀI NGOẠI, BÀI ƯỤ.. ); Đọc GIẤU kiểu Nôm, vì có quan hệ X/GI như ở GIẶT/XẮT – GIỘI/XỐI, GIÁP/XÁP... Ở câu 1548: LẠI ở cả 4 bản A, B, C, D; CÓ chỉ ở bản này.
!
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?
Làm cho nhìn chẳng được nhau,
Làm cho đày đoạ cất đầu chẳng lên.
Làm cho trông thấy nhãn tiền.
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.
TRONG
Chữ VÁN khắc không thật chuẩn thanh phù gần như CẬP. Đầu câu 1553: NỖI ở A, B, C, D: TRONG ở bản này.
lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mé ngoài.
TRONG
Chữ VÁN khắc không thật chuẩn thanh phù gần như CẬP. Đầu câu 1553: NỖI ở A, B, C, D: TRONG ở bản này.
lòng kín chẳng ai hay,
Mách tin ý cũng liệu bài
TÂN công
TÂN CÔNG được dùng nhất trí ở cả 5 bản, nhưng với ý nghĩa có lẽ là “tâng công”.
.
Tiểu thư nổi giận đùng đùng:
“Gớm
THAY
Chỗ này các bản A, B, C, D đều in chữ TAY. Riêng bản này in một chữ đọc HAY, đọc THAY đều được cả. Theo mặt chữ thì thiên về HAY, theo văn cảnh thì có lẽ thiên về THAY, tuy HAY cũng có nghĩa.
thêu dệt ra lòng trêu ngươi!