Truyện Kiều, bản 1872
Truyện Kiều, bản 1872
Trang 95 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
Gỡ SAO ra NỢ còn gì là duyên?
Lỡ DƯỜNG chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?
Một mình âm ỷ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh.
Sớm khuya hầu hạ đài doanh,
Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra.
Lựa lời nàng mới thưa qua:
Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.
Tiểu thư LẠI HỎI Thúc sinh:
"Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao."
Sinh đà rát ruột như bào,
Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng XOANG .
Những e lại luỵ đến nàng,
Phô sòng mới sẽ LIỆU đường hỏi tra.
Cúi đầu quì trước sân hoa,
BẠCH cung nàng mới LÊN qua một tờ.
Diện tiền trình với tiểu thư,
Thoắt xem dường có ngẩn ngơ NAO tình.
Quốc ngữChú thích
Gỡ SAO ra NỢDị bản phổ biến là GỠ RA CHO NỮA CÒN GÌ LÀ DUYÊN: nó gặp ở bản A, bản B, bản C, bản D với tư cách là một câu ghép hàm ý DẪU... THÌ CŨNG... Bản này đổi thành 2 câu hỏi: GỠ SAO RA NỮA (hoặc NỢ)? CÒN GÌ LÀ DUYÊN? Chúng tôi chọn NỢ để đối với DUYÊN.
DƯỜNGBản A in LỠ LÀNG; bản B khắc chữ Nôm cũng đúng với LỠ LÀNG; Nhưng ba bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879 khắc LỠ DƯỜNG. Dựa vào chữ LỠ cũng có thể có người đoán rằng DƯỜNG có khả năng đọc được thành LÀNG. Theo ý chúng tôi vị tất đã có khả năng đó. Hơn nữa chữ DƯỜNG thường dùng để chỉ đại khái một cái tình thế nào đó, chẳng hạn ở DƯỜNG NÀỎ DƯỜNG NÀY, DƯỜNG KIA... Vậy nên chăng là cứ đọc LỠ DƯỜNG? (như đã đề nghị ở chú thích 266).
LẠI HỎIBa bản Nôm cổ C, D, DMT đều in LẠI HỎI; bản B đảo trật tự thành HỎI LẠI; bản A theo bản B.
XOANGBản A in ĐANG; bản B khắc chữ ĐƯƠNG đọc ĐANG; hai bản C, D khắc chữ ĐĂNG, cũng đọc ĐANG. Riêng bản này khắc một chữ rất lạ; chữ này chỉ có thể giải thích theo mấy khả năng sau đây:<br>  - hoặc đó cũng là ĐANG khắc không chuẩn, nhưng một chữ ĐANG không viết bình thường, mà viết thêm bộ KIM, bộ NGỌC v.v...<br>  - hoặc đó là chữ XUNG viết theo lối XA + ĐỒNG hoặc XA + TRÙNG. Dạng XA + TRÙNG rất gần dạng trong văn bản.<br>  - XUNG có nghĩa là “mặt đối mặt” như trong ĐẠI MÔN XUNG BẮC.<br>  - XUNG có thể đọc là XOANG. Ở chữ Nôm, XUNG có thể đọc XONG, XOANG – CHẲNG XOANG = “chẳng nhìn mặt được”. Hoặc đó là chữ ĐONG (ĐÔNG + LƯỢNG) nhưng đọc ĐANG, kiểu như XONG có thể đọc XOANG (HTC).
LIỆUCả 4 bản A, B, C, D đều LỰA ĐƯỜNG HỎI TRA; Riêng bản này thay chữ LỰA bằng chữ LIỆU.
BẠCH* Ở bản này BẠCH CUNG, ở các bản khác (A, B, C, D) đều THÂN CUNG.<br>  ** Riêng ở A và B: THẢO QUA MỘT TỜ; Còn các bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879 thì đề khắc LÊN QUA MỘT TỜ.
NAOBản A và ba bản Nôm B, C, D đều ghi thống nhất: NGẨN NGƠ CHÚT TÌNH. Ở bản này ta thấy khắc không phải là chữ CHÚT mà là chữ NAO, đúng như chữ NAO vừa gặp cuối câu 1890. Phải chăng CHÚT đã khắc nhầm thành NAO? Hay là có lí do khác? Ngoài chữ NAO liên quan đến NÀO, còn một chữ NAO nữa như trong NAO NAO, NAO LÒNG v.v... Rất có thể bản này dùng chữ NAO đó: NAO TÌNH thì cũng gần gần như NAO LÒNG.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1872
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1872
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.