Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Liền tay trao lại Thúc sinh,
Rằng: "Tài nên trọng mà tình nên thương.
"Ví sinh có số giàu sang,
"Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên!
"Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
"Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời!"
Sinh rằng: "Thật có như lời,
"Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay!
"Nghìn xưa âu cũng thế này,
"TỪ bi âu liệu bớt tay mới vừa."
Tiểu thư rằng: "Ý trong tờ,
"Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không.
"Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
“Cũng cho CHO NGHỈ trong vòng bước ra.
"Sẵn Quan âm các vườn ta,
"Có cây trăm thước có hoa bốn mùa.
“Cho nàng ra đó giữ chùa
TỤNG
Ở đây cũng thấy lại được sự khác nhau giữa các loại văn bản:
- Hai bản in muộn (A và B) thì dùng CHÉP KINH (theo VIẾT KINH của TVKI).
- Ba bản nôm cổ thế kỉ 19 thì dùng TỤNG KINH.
Hẳn hai bản in muộn theo TVKI lại để sau này ăn khớp với chuyện Thúc Sinh nói ra chùa xem “viết kinh”, và Hoạn Thư khen viết đẹp như thiếp Lan Đình.
kinh.”
Tưng Tưng trời mới bình minh,
Hương hoa ngũ cúng sắm sanh lễ thường.