Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
MỐNG ĐƯA
Các bản A, B, C, D nói chung đều dùng hai chữ ĐƯA NÀNG ( B thì khắc đúng; C khắc nhầm NÀNG thành RẰNG, D khắc nhầm NÀNG thành CHÀNG nhưng ai cũng luận ra được là ĐƯA NÀNG). Riêng bản DMT này thì dùng MỐNG ĐƯA. MỐNG là từc cổ có nghĩa là “thu xếp” (ở HTC “rắp ranh”, “toan lo”, “sắp đặt”).
đến trước Phật đường,
Tam qui ngũ giới cho nàng xuất gia.
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.
Sớm khuya tính đủ dầu đèn,
Xuân Thu cắt sẵn hai tên hương trà.
Nàng từ lánh
DẤU
Bản A ghi LÁNH GÓT, chắc do tiếp thu theo bản của TVKI và bản của A. des Michels còn các bản Nôm 1902, 1879, 1872, 1871 thì đều khắc LÁNH DẤU cả. Đây là lối dịch từ hai chữ ẨN TÍCH của Hán: ẨN là LÁNH, TÍCH là DẤU.
vườn hoa,
Dường gần rừng tía dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại còn mong?
Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng
THÔI thôi
THÔI THÔI chỉ gặp ở bản này. Còn ở bốn bản A, B, C, D đều THÌ THÔI cả. Cần xét xem có phải chữ THÔI trước là một chữ do THÌ khắc nhầm mà thành không?
.
Phật tiền
thảm LẤP sầu KHƠI
Chỉ ở bản B là khắc SẦU VÙI; Các bản C, D, DMT đều khắc SẦU KHƠI cả. Bản A theo bản B nên in THẢM RẤP SẦU VÙI. Đọc RẤP cũng được, nhưng có lẽ đọc LẤP thì vẫn có phần sát với thanh phù LẬP hơn.
,
Ngày pho thủ tự đêm nồi tâm hương.
Cho hay giọt nước cành dương,
Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên.
SỒNG NÂU
Cả 3 bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879 đều khắc SỒNG NÂU. Bản 1902 đảo lại thành NÂU SỒNG. Bản A cũng theo vậy.
từ trở mầu thiền,
Sân thu trăng đã vài
PHEN
Chữ PHEN khắc không chuẩn.
đứng đầu.
Quan phòng then nhặt lưới mau,
Nói lời trước mặt rơi châu vắng người.
Gác kinh viện
SÁCH
Chữ SÁCH khắc cũng không chuẩn, trông thành chữ NHIỄM.
đôi nơi,
Trong gang tấc lại gấp
MƯỜI
Cũng vậy, chữ MƯỜI khắc nhầm thành chữ CẬN.
quan san.