Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Những là
NGÂM thở GIỘT than
Ở A: NGẬM THỞ NGÙI THAN; Ở B: NGẬM THỞ NUỐT THAN. Nhưng ở ba bản Nôm cổ1871, 1872, 1879 thì khắc GIỘT THAN, GIỘT là từ cổ có ý nghĩa là “mỉa mai châm biếm” (Xin xem HTC: GIỘT: “nói biếm nhau, nói khéo nhau, nói xa gần mà cười nhau”). Vậy ở trước phải đọc là NGÂM THỞ chứ không phải NGẬM THỞ, tuy chữ đó có cả 2 cách đọc NGÂM, NGẬM. Và cách hiểu ở 3 bản Nôm cổ là “khi ngâm nga, khi châm biếm, đều có chen than thở” hoặc “than thở qua lời thơ, lời châm biếm”. Rõ ràng qua thời gian, từ thế hệ các văn bản cổ đến thế hệ các văn bản in muộn về sau, đã có một sự diễn biến, trong cách hiểu, cách diễn đạt: một sự diễn biến đi khá xa so với cách hiểu lúc ban đầu.
,
Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà.
Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng.
SỤT SÙI KỂ nỗi đoạn trường,
Giọt châu tầm tã ƯỚT tràng áo xanh:
RẰNG
RẰNG CAM chỉ gặp ở bản này; Các bản A, B, C, D đều nhất trí ĐÃ CAM.
cam chịu bạc với tình,
“Chúa ĐÔNG để tội một mình cho hoa!
"Thấp cơ thua trí đàn bà,
"Trông vào đau ruột nói ra ngại lời.
“Vì ta
CHO
Lại một sự khác nhau giữa bản Quốc ngữ A và các bản Nôm B, C, D, DMT:
- Ở bản A: VÌ TA NÊN LỤY ĐẾN NGƯỜI;
- Ở các bản Nôm: VÌ TA CHO LỤY ĐẾN NGƯỜI.
Chữ NGƯỜI ở bản này khắc không chuẩn.
luỵ đến NGƯỜI,
“Cát lầm ngọc trắng thiệt
THÒI
Hai dị bản ở câu này:
- Bản B và bản này khắc THIỆT THÒI;
- Bản A, C, D in THIỆT ĐỜI.
xuân xanh.
“Quản chi trên gác dưới
DUỀNH
Ở 3 bản Nôm cổ 1871, 1872, 1879: TRÊN GÁC DƯỚI DUỀNH;
Ở 2 bản A, B in muộn về sau: LÊN THÁC XUỐNG GHỀNH.
,
"Cũng toan sống thác với tình cho xong.
"Tông đường chút chửa cam lòng,
"Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai.
"Thẹn mình đá nát vàng phai,
"Trăm thân dễ chuộc một lời được sao!"
Nàng rằng: "Chiếc bách sóng đào,
“
PHÙ TRẦM
Không có gì đáng nghi ngờ về hai chữ NỔI CHÌM trong các bản A, B, C, D vì chữ nào in cũng rõ. Trong bản này thì có vấn đề: chữ sau khắc không chuẩn, chữ đầu khắc sai. Căn cứ tự dạng, có lẽ là 2 chữ PHÙ TRẦM.
cũng mặc lúc nào rủi may.