Truyện Kiều, bản 1902
Truyện Kiều, bản 1902
Trang 67 / 163
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Lòng còn gửi áng mây hàng
Hoạ vần xin hãy chịu chàng hôm nay".
Rằng: “Sao nói lạ lùng thay
Cành kia chẳng phải cội này mà ra ”.
Nàng càng tuôn giọt thu ba
Đoạn trường lúc ấy giở mà buồn tênh:
"Thiếp như hoa đã lìa cành
Chàng như con bướm liệng vành chút chơi
Chúa xuân đành đã có nơi
Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi".
Sinh rằng: "Từ thuở tương tri
Tấm riêng riêng những nặng vì nước non
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Nàng rằng muôn đội ơn lòng
Chút e bên thú bên tòng dễ đâu
Bình khang nấn ná bấy lâu
Yêu hoa yêu được một màu điểm trang
Rồi ra nhạt phấn phai hương
Lòng kia giữ được thường thường thế chăng
Quốc ngữChú thích
mây hàngđiển xưa tướng Địch Nhân Kiệt lên núi Thái Hàng thấy đám mây xa bèn chỉ xuống, nói “nhà cha mẹ ta ở dưới đó”, mây Hàng là chỉ ý nhớ quê nên Thúc Sinh mới biết rằng nhà Kiều không phải ở đây. B-T theo bản Phường để: mây VÀNG, do một câu cổ thi cũng hàm ý tư hương như mây Hàng. CVT thì khẳng định MÂY HÀNG là cận bản, cổ bản là MÂY VÀNG.
Cành kia chẳng phải cội này mà raÝ Thúc Sinh hỏi không phải nhà Kiều ở đây sao?
tuôn giọt thu baB-T: Ủ DỘT thu ba. Thu ba: ánh mắt người đẹp.
chút chơiB-T: MÀ chơi.
bên thú bên tòngBên thú lấy vợ, bên tòng lấy chồng: ý là đâu dễ mà được lấy nhau.
Bình khangchỉ xóm lầu xanh.
nhạt phấnB-T: LỞ phấn.
thế chăngB-T: MÃI chăng.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1902
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1902
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.