Truyện Kiều, bản 1866
Trang bị thiếu
Trang 19 / 136
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Nhặt thưa, gương rọi bóng cành,
Ngọn đèn trông thấy trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu.
Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.
Tiếng lên sẽ động giấc hoè,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh núi non Thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: "Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa cho phải tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?"
Vội mừng làm lễ liền vào,
Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.
Tiên thề cùng thảo một trương,
Tóc mây một ước, dao vàng chia hai.
Vầng trăng vằng vặc trong trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương ,
Giải the hương lộn, bình gương bóng lồng .
Sinh rằng: "Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam .
Quốc ngữChú thích
gươngGương: tức gương nga, chỉ mặt trăng.
trướng huỳnhTrướng huỳnh: (*huỳnh*: con đom đóm) chỉ phòng đọc sách, phòng học của Kim Trọng, lấy tích Xa Dận bắt đom đóm làm đèn mà đọc sách.
TiếngTiếng sen: tiếng bước chân đi (xem chú thích câu 190).
giấc hoèGiấc hoè: do chữ *Hoè An mộng*. Điển ấy như sau: Mé nam nhà Thuần Vu Phần (đời Đường) có một cây hoè. Một hôm ông nằm ngủ dưới gốc cây ấy thì chiêm bao thấy vua nước Hoè An gả công chúa cho và cử làm thái thú quận Nam Kha, sống thật sung sướng hiển vinh. Khi tỉnh dậy chỉ thấy ở dưới gốc cây môt tổ kiến. Thuần Vu Phần ngẫm ra đó là nước Hoè An còn quận Nam Kha chỉ là một cái hang ở tận trong cùng. Do điển đó về sau người ta thường dùng *giấc hoè* hay *giấc Nam Kha* để nói rằng phú quí ở đời cũng chỉ là hư ảo như giấc mộng mà thôi. (Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không).
hoa lêHoa lê: ví nàng Kiều. Cả câu ý nói lúc đêm khuya, trăng đã xế nàng Kiều lại gần Kim Trọng khi ấy còn đương dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê.
Đài senĐài sen: cái giá căm nến có cái đài hình hoa sen để đỡ lấy những giọt nến chảy xuống.
song đàoSong đào: các bản nôm đều viết chữ song .7A97. là song cửa. Thế thì phải giảng là cửa sổ có trồng cây đào một bên ở ngoài sân (không thể giảng là cái bình hương làm theo kiểu hình hai quả đào). Cả câu này có thể hiểu là Kim Trọng đã nối thêm sáp (nến) ở cái đào sen và bỏ thêm trầm vào cái lư hương để ở bên cửa sổ, phía ngoài sân có trồng cây đào. (Xem thêm ở câu 2852).
Tiên thềTiên thề: tờ giầy chép lời thề của hai người viết trên giấy hoa tiên.
Đinh ninhĐinh ninh: nói đi nói lại cho cặn kẽ, cho chắc chắn.
Tóc tơTóc tơ: kẽ tóc chân tơ, nói hết từng tí không bỏ sót điều gì.
chữ đồngChữ đồng: chữ đồng tâm, cùng một lòng một dạ với nhau.
Chén hàChén hà: chén rượu bằng ngọc màu đỏ như sắc ráng trời chiều.
quỳnh tươngQuỳnh tương: (*quỳnh*: ngọc quỳnh, *tương*: thứ rượu) thứ rượu ngon quí như nước ngọc, như rượu tiên.
GiảiDải là hương lộn: ý nói khi hai người ngồi gần nhau thì mùi hương ở dải lưng bằng lụa toả lên lẫn vào hai người.
bình gươngBình gương: bức bình phong có gắn tấm gương.
bóng lồngBóng lồng: khi hai người ngồi kề bên nhau thì bóng của hai người lồng chiếu vào trong gương.
một chút lòng chưa camMột chút lòng chưa cam: (cam = thoả) ý Kim Trọng muốn nói từ lâu nghe tiếng Thuý Kiều giỏi đàn mà chưa được thưởng thức tài nghệ nên chưa được thoả lòng mong ước.
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1866
Tác giả:
N/A
Loại tài nguyên:
Manuscript, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1866
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Chữ Nôm , Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.