Truyện Kiều, bản 1870
Truyện Kiều, bản 1870
Trang 143 / 233
Tips: Nhấp vào kí tự Hán Nôm để tra cứu trong từ điển.
Khen rằng: "Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lan đình nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thực cũng nên mua lấy tài!"
Thuyền trà cạn chén hồng mai,
Thong dong nối gót thư trai cùng về.
Nàng càng e lệ ủ ê,
Rỉ tai hỏi lại hoa tì trước sau.
Hoa rằng: “Bà đến đã lâu,
Dón chân đứng núp độ đâu nữa giờ.
Rành rành kẽ tóc chân tơ,
Mấy lời nghe hết, đã dư tỏ tường.
Bao nhiêu đoạn khổ tình thương.
Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than.
Quốc ngữChú thích
LanSo vào với thiếp “Hương” đình nào thua (LVĐ)
Thuyền tràBản LVĐ và bản LNP đều viết 船 茶. Bản Tăng Hữu Ứng viết là 禪 茶 thì đúng cả chữ và nghĩa. Sở dĩ có bản viết chữ 船 hoặc 禪 vì chữ ấy cũng chỉ là “ghi âm” cho chữ phạn Dhyana tức “thiền na” mà sau người ta rút gọn lại là “thiền” để chỉ Phật gia, Phật tự, tăng già. Ngày trước người ta vẫn thường gọi là cửa “thuyền”. Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim trong quyển “Truyện Thuý Kiều” in lần thứ nhất năm 1925 đã viết: Nâu sồng từ trở màu “thuyền” (c.1933) Cửa “thuyền” vừa, cữ cuối xuân (c.2016) Mùi “thuyền” đã bén muối dưa (c.3033) Màu “thuyền” ăn mặc đã ưa nâu sồng (c.3044) “Thuyền trà” hoặc “thiền trà” là chén trà của nhà chùa. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng viết là “thuyền trà” và cũng giảng là nước trè của “nhà chùa” pha ra. Lê Văn Hoè trong quển “Tầm nguyên từ điển” cũng viết là “thuyền” và đã giảng là yên lặng, vắng vẻ. Đạo Phật lấy sự thanh tịnh làm đầu nên mới kêu là thuyền môn (cửa thuyền) tức là nơi yên lặng, tĩnh mạc. Lê Văn Hoè còn ghi chú: “Ta thường đọc viết lầm là ‘thiền’”.
cạn chénThuyền trà cạn “nước” hồng mai (LVĐ)
đã lâuHoa rằng: Bà đến “bấy” lâu (LVĐ)
Tiêu đề:
Truyện Kiều, bản 1870
Tác giả:
Unknown:
Loại tài nguyên:
Image, Text
Nơi xuất bản:
N/A
Ngày tạo:
1870
Định dạng:
Digital
Ngôn ngữ:
Hán Nôm, Tiếng Việt
Chủ đề:
Văn học Việt Nam cổ điển, Văn học Việt Nam
Điều kiện truy cập:
Open access for educational and research purposes; commercial use prohibited.